Chế độ một đảng duy nhất cầm
quyền ở Việt Nam hoàn toàn không phải sự áp đặt từ phía Đảng hay một lực lượng
chính trị nào khác mà chính là sự lựa chọn của dân tộc, của nhân dân. Từ thực
tiễn cách mạng Việt Nam cho phép khẳng định: Ở Việt Nam không cần và không chấp
nhận chế độ đa đảng.
Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền
phá hoại cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tung ra
nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng lên án sự “bảo thủ” của Đảng
ta vì không chịu “đổi mới” về chính trị, rằng: ở Việt Nam nếu cứ thực hiện chế
độ một đảng duy nhất cầm quyền sẽ không bao giờ có dân chủ! Thậm chí, các thế lực
thù địch còn tạo áp lực đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp, xóa bỏ Điều 4, hiến
định về Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã
hội.
Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu chống phá này, chúng đã rất
kỳ công tiến hành thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những hạn chế, thiếu sót và cả
những sai lầm của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trong lãnh đạo lĩnh vực kinh
tế, quản lý xã hội để minh chứng cho sự cần thiết chấm dứt vai trò lịch sử của
Đảng ta. Chúng đồng thời ra sức khai thác, lợi dụng sự suy thoái, biến chất của
một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động nhằm tạo sự phân hóa sâu sắc trong nội
bộ Đảng, làm suy yếu sức mạnh khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và giữa Đảng
với nhân dân. Chúng hô hào, khuyến khích, thậm chí tạo áp lực buộc chúng ta phải
thực hiện đa đảng đối lập.
Cụ thể, ngày 29/11/2022, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài
“Nếu Việt Nam có cạnh tranh đảng phái chính trị?”, nội dung phủ nhận giá trị tự
do, dân chủ của chế độ chủ nghĩa xã hội; kích động người dân đấu tranh xóa bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng và xây dựng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
ở Việt Nam.
Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền và hoạt động chống phá ấy đều
nhằm mục đích làm suy yếu và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân
tộc. Đó là mưu đồ hết sức thâm độc của các thế lực thù địch mà mỗi cán bộ, đảng
viên, mỗi một người dân phải tỉnh táo và luôn nêu cao tinh thần cảnh giác.
* Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam là sự lựa chọn của dân tộc
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của
nhân dân. Điều này được chính lịch sử dân tộc minh chứng. Bởi vì trước khi Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời, tính mốc thời điểm từ ngày 1-9-1858, giới sử học thống
kê đã có hơn 300 cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân nổ ra để phản kháng ách
thống trị tàn bạo của thực dân Pháp xâm lược, nhưng cuối cùng tất cả hơn 300 cuộc
đấu tranh đó đều thất bại, đều bị thực dân Pháp “dìm trong biển máu”. Chỉ khi Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng tạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, cách mạng Việt Nam mới giành được thắng lợi, mở đầu là thắng lợi của Cách
mạng tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch
sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp theo là 9 năm toàn quốc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, dân tộc ta đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng
chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy 5 châu chấn động địa cầu”. Sau đó là cuộc
trường chinh 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trải qua 5 đời tổng
thống với 4 chiến lược chiến tranh, cuối cùng Mỹ cũng đành ngậm ngùi ngồi vào
bàn đàm phán ký với ta Hiệp định Paris kết thúc quá trình xâm lược Việt Nam. Việc
ta đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ đã làm cho cả thế
giới sửng sốt, ngỡ ngàng, bàng hoàng, phải thốt lên rằng “Why Vietnam”.
Giai đoạn 1945-1975, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng song song tồn
tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời năm 1944) và Đảng Xã hội Việt
Nam (ra đời năm 1946) cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, đến năm 1988, tự nhận thấy không còn vai trò
gì với dân tộc nên đã tuyên bố tự giải tán. Ngoài ra, trong thời gian này, còn
có sự tồn tại của nhiều đảng phái thân Pháp, thân Mỹ công khai đối lập với Đảng
Cộng sản Việt Nam. Nhưng cũng chính thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh
không có một đảng nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ trình độ, năng lực, bản
lĩnh và trí tuệ để có thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công. Vậy thì lý do
gì, hà cớ gì khi cách mạng thành công, chúng ta giành được chính quyền rồi lại
trao chính quyền ấy vào tay một đảng phái khác?
Từ sau năm 1975 đến nay, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
ngày càng được củng cố, phát triển toàn diện. Với bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi
mới, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến
tranh, vượt qua khủng hoảng gay gắt về kinh tế - xã hội, trở thành một nước có
trình độ phát triển trung bình. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày
càng được cải thiện; dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; quốc phòng, an ninh
được giữ vững; văn hóa, xã hội có nhiều bước phát triển; vị thế, uy tín của Việt
Nam không ngừng được nâng cao trong khu vực và trên trường quốc tế. Như vậy, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đạt
được những tiêu chí cao nhất trong hoạt động chính trị của một đảng cầm quyền.
Những thành tựu đó một lần nữa khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ
có khả năng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc,
mà còn có khả năng lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước trên con đường đi tới mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
* Với chế độ một đảng duy nhất cầm quyền hoàn toàn có thể đảm bảo
và phát huy dân chủ
Luận điệu mà các thế lực thù địch tập trung cổ súy cho việc thực hiện đa
đảng đối lập là để có dân chủ “thực sự”! Chúng ta đều biết rằng và thực tiễn
cũng đã chứng minh vấn đề dân chủ hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng đảng của
một nước mà nó sẽ phụ thuộc chế độ chính trị, cơ chế hoạt động của đảng cầm quyền,
vào trình độ, năng lực, bản lĩnh của đảng cầm quyền, vào trình độ dân trí và
dân chủ của xã hội. Trên thế giới hiện nay, có không ít những nước đa đảng
nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại,
cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ vẫn được bảo đảm. Như ở
Việt Nam hiện nay, thực hiện chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng dân chủ
luôn được đảm bảo và phát huy. Bởi vì mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt
Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người
bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa
cộng sản. Đó cũng là ý chí, khát vọng cháy bỏng của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ
làm nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩalà
bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh
vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp
luật, được pháp luật bảo đảm”. Đây là những quan điểm được tổng kết,
có tính khái quát cao về dân chủ, khẳng định bản chất của chế độ xã hội ta là
“dân chủ” và “nhân dân làm chủ”, trở thành một trong tám đặc trưng của chế độ
xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
đề cao vai trò của Nhân dân, bổ sung thêm nội dung, phương châm thực hiện dân
chủ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”;
tiếp tục khẳng định: ”Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân
trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc”, và “ Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước là nền tảng chính trị, pháp lý để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ của mình.
Mặt khác, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện vai trò lãnh đạo xã hội bằng
chủ trương, đường lối của Đảng. Trong quá trình xác định chủ trương, đường lối,
Đảng tổ chức lấy ý kiến dân chủ rộng rãi trong xã hội. Khi mà mọi tổ chức chính
trị xã hội, đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân đều có thể đóng góp ý kiến với Đảng,
giám sát và phản biện cho Đảng thì không thể nói là dân chủ không được đảm bảo.
Vì vậy, cần phải khách quan để nhìn nhận rằng việc còn để xảy ra tình trạng thiếu
dân chủ ở chỗ này, chỗ khác đó chỉ là những hạn chế, thiếu sót cụ thể trong quá
trình thực hiện dân chủ, chứ không phải là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng
sản Việt Nam, bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa đang được thực hiện ở Việt
Nam hiện nay.
kẻ thù dùng mọi thủ đoạn để chống phá Đảng ta
Trả lờiXóa