Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2021

Mưu đồ đen tối đằng sau câu hỏi: Thế nào là tự do, dân chủ - Ngọc Xuân

 Ngày 26 tháng 6 năm 2021, Dương Quốc Chính với bài viết: Thế nào là tự do, dân chủ và làm thế nào để có tự do ở chế độ toàn trị? Được Đài RFI phát lại nhằm chống phá nước ta. Nội dung bài viết bộc lộ rõ mưu đồ đen tối của Dương Quốc Chính là phê phán, xuyên tạc quan điểm về tự do và chế độ dân chủ ở Việt Nam; kêu gọi, kích động, cổ súy cho xã hội dân sự, quyền lập hội, công đoàn độc lập, tự do giáo dục, xuất bản, hướng lái nước ta theo tự do, dân chủ kiểu phương Tây.

Dương Quốc Chính cố tình không hiểu rằng: Là dân tộc phải đem xương máu để giành độc lập, xóa bỏ sự bóc lột, hơn ai hết, mọi người Việt Nam đều hiểu rằng, tự do, dân chủ là giá trị thiêng liêng, cao cả và xã hội mới phải tiếp tục bảo vệ, phát triển. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm tới vấn đề này, thể hiện trong các quan điểm, chủ trương, chính sách, qua hành động thiết thực làm cho nhân dân thật sự làm chủ xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta ngày càng chú trọng hoàn thiện các quan điểm chủ trương về tự do, dân chủ, coi việc nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm chủ trương về tự do, dân chủ là yêu cầu bức thiết trong phát triển đất nước. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”; sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn… Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội XI, Đại hội XIII của Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia ký kết. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó cho thấy tự do, dân chủ ở Việt Nam không chỉ thể hiện rõ trong chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà còn thể hiện rõ trong thực tế là người dân ngày càng phát huy đầy đủ hơn vai trò của mình trong quản lý đất nước, quản lý xã hội. Những thành tựu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, nhất là phát triển con người của Việt Nam đã chứng minh rõ điều đó. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần hết sức cảnh giác với các luận điệu lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, kích động, hướng lái chúng ta “ theo đuổi” những giá trị không đích thực về tự do, dân chủ, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc./.

 

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2021

CẢNH GIÁC VỚI CÁC “NHÀ DÂN CHỦ”

 


Có lẽ, đại đa số người dân Việt Nam từ già, đến trẻ đều đã nhận ra bộ mặt thật hết sức phản động, ngược dòng, tráo trở của một số người nhận danh “kẻ sĩ yêu nước”, “trí thức thương nòi”, tự cho mình là “chiến sĩ dân chủ” và các tổ chức phản động như: “Hội anh em dân chủ”, “nhóm dân chủ cấp tiến”… ở Việt Nam. Ấy vậy mà, ngày 18/12/2020, trên trang Rfavietnam.com, VietTuSaiGon đã viết bài: “Vì sao phong trào dân chủ ở Việt Nam mất dần sức sống”. Bài viết của VietTuSaiGon hết sức phản động, xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận thành công của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, không ngượng mồm cho rằng: Một trong những nguyên nhân làm cho dân chủ ở Việt Nam “mất dần sức sống” là vì đảng, chính phủ hiện hành bắt bớ, giam cầm, đàn áp “các nhà hoạt động dân chủ” như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài và Lê Thu Hà …(?).

Vậy đâu là sự thật, chúng ta sẽ có câu trả lời từ các câu hỏi: “Các nhà hoạt động dân chủ” họ là ai? họ đấu tranh vì mục đích gì? Có thực sự đấu tranh cho nền dân chủ tốt đẹp hay chỉ vì mục địch chính trị thấp hèn, phản động. Bài viết chỉ xin lấy một ví dụ nhỏ về bộ mặt thật của “Hội anh em dân chủ” – một tổ chức mà không ít kẻ đã “thần tượng hóa” tổ chức này như một “điểm sáng”, “điểm mới”, “biểu tượng” cho đấu tranh dân chủ ở Việt Nam – làm minh chứng khẳng định sự giả dối, xuyên tạc, phủ nhận, phản động trong bài viết của VietTuSaiGon. NTĐ

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

NẠN PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC Ở MỸ LÀ TẤM GƯƠNG PHẢN CHIẾU TÌNH HÌNH TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM



Những cuộc tuần hành, biểu tình và bạo loạn của người da màu tại Mỹ những ngày qua đã phơi bày sự thật về nạn phân biệt chủng tộc ở nước này, đồng thời còn là tấm gương phản chiếu tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

74 NĂM - CHUYẾN THĂM NƠI ĐỀ XUẤT RA NHỮNG NGUYÊN TẮC “TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI” - BIỂU HIỆN CHO KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CỦA MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI



                                      
Đúng ngày này cách đây 74 năm (ngày 31-5-1946), trong bối cảnh tình hình đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn, phức tạp sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, “theo mệnh lệnh của Chính phủ và ý chí của quốc dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là nguyên thủ quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (DCCH) lên đường thăm Cộng hòa Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm của Người là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của Chính phủ Việt Nam trong những năm 1945-1946 để cứu vãn nền hòa bình trong khi thực dân Pháp đang quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa. 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Mưu đồ đảo chính Hiến pháp thất bại, những kẻ này đã trở thành “Tội đồ với dân tộc Việt”



Mọi người đều nhớ sự kiện sửa đổi hiến pháp của nước ta, vào năm 2013, Ban soạn thảo đã thể hiện được tinh thần dân chủ tuyệt đối, tổ chức trưng cầu ý kiến rộng rải trong các tầng lớp nhân dân và tiếp thu một cách cầu thị, nghiêm túc. Đã có hàng vạn ý kiến đóng góp của nguời dân, với ý thức trách nhiệm cao và cơ bản đồng tình với bản dự thảo đã đưa ra. Cũng có ý kiến chưa hoàn toàn nhất trí ở một số điểm, nhưng với tinh thần xây dựng và đề nghị làm rõ thêm nội hàm và chi tiết trong một vài điều khoản. Bản Hiến pháp sửa đổi đã được Quốc hội thông qua, với số tỷ lệ nhất trí gần như tuyệt đối (trừ ông Dương Trung Quốc không nhất trí).
Tuyệt đại người dân là vậy, nhưng trong dịp đó lại xuất hiện một nhóm người, lợi dụng sự dân chủ đó, đã phủ nhận hoàn toàn bản dự thảo Hiến pháp đang trưng cầu ý kiến nhân dân. Họ tự soạn ra một cái gọi là “Hiến pháp” theo ý muốn của họ và “kiến nghị” Ban soạn thảo và Quốc hội phải chuẩn y (!!). Nhóm này có 72 người ký tên (thường gọi là nhóm 72). Trong số đó, sau này có người chối là họ không ký, có người nói “bị lừa”, như ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên bộ trưởng Bộ Tư pháp đã “phân trần, giải bày” trên VTV1, chắc mọi người còn nhớ. Khi đó, họ đang còn dấu mình trong vỏ bọc “thiện lương” vì “sự phát triển của đất nước và làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại được vị trí trong quần chúng nhân dân” (!!?). Thật là ngược đời và nực cười qúa thể cho nhóm người tự cho mình là cái “rốn của Vũ trụ” này, khi “dấu đầu hở đuôi”, ngay trong bản “kiến nghị” đó!
Thực ra cốt lõi trong bản “kiến nghị” của họ là phủ nhận thành qủa cách mạng của nhân dân ta ở phần mở đầu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ở điều 4, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang ở một số điều trong bản Hiến pháp sửa đổi; từ bỏ hoàn toàn sự định hướng con đường mà cả dân tộc ta đang hướng tới. Thực chất đây là mưu đồ của một cuộc “đảo chính Hiến pháp”, vô cùng thâm độc, nguy hiểm; nhưng cũng rất “ấu trĩ” của hạng “chính khách salon”, mưu lớn mà trí bé tẹo. Do vậy, mưu đồ này đã bị thất bại hoàn toàn, chuyện “quốc gia đại sự” là nhân dân giao phó cho những người thật sự có Tầm, có Tâm với đất nước, chứ không ai lạ gì mấy kẻ bất mãn vì “Đức mỏng lại muốn ngôi cao” này.
Từ đó đến nay, trong số đó có người biết quay đầu là bờ, có kẻ lặn sâu, nhưng có kẻ đã tự biến mình thành thứ “phản tặc” của đất nước. Bởi “mưu lớn mà trí bé tẹo, Đức lại mỏng”, không biết điều nên, lẽ phải, nên bị lú lẫn trong cái “ngụy triết lý”: “được làm Vua, thua làm giặc”. Muốn làm việc lớn phải có “Đức, Trí, Dũng”, nhưng “Dũng” cũng không có nốt, mà biến thành một thứ ương dở “Thảo khấu salon”, chuyên xúi bẩy người khác làm bậy, để chịu tội thay cho mình. Có thể nêu tên một số bản mặt quen thuộc lâu nay (trong nhóm 72), như: Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Quang, Huỳnh Tấn Mẫn, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Phước Tương (Tương Lai)...Có thể những kẻ này được coi là “giặc” cũng không oan, khi Quang A sang Mỹ đã chính thức đứng dưới Cờ Vàng kêu gọi lật đổ chế độ và toàn bộ mấy kẻ này đều hậu thuẫn, xúi bẩy cho đám “giặc cỏ Đồng Thuận” chống lại chính quyền và đã gây ra tội ác man rợ.
Còn những kẻ có chân trong nhóm 72, tuy mưu đồ không thay đổi, nhưng rất “ma lanh” hiện đang lập lờ hai mặt, để chống phá và hưởng lợi hai mang rất thực dụng như: Nguyễn Minh Thuyết, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Hồ Ngọc Đại… sớm muộn cũng sẽ “thoát y chính trị” toàn phần như những kẻ trên.
Những kẻ có chân trong nhóm này, thuộc hạng long tong, “lưu manh giả danh trí thức”, như “tiến sỉ Háng Nôm” Nguyễn Xuân Diện, giáo viên dạy văn, bị “mất dạy”, rồi trốn vợ, lộn bồ Huỳnh Ngọc Chênh, tiến sỉ Tiểu học Đào Trọng Thi, nhà “phê bình riệu” Phạm Xuân Nguyên ...vv, thì cũng không đáng chấp làm gì. Bởi thực lực cũng chỉ đến đó mà thôi.
Tuy nhiên, những kẻ này hết thảy trong nhóm 72, mưu đồ “đảo chính Hiến pháp” bị thất bại tẽn tò, đều chung một “ngụy triết lý”: “thắng làm Vua, thua làm giặc”; nhưng Đức, Trí, Dũng đều thiếu, nên chỉ là những “Thảo khấu salon” không hơn, không kém! Vòng “kim cô” của lẽ phải và pháp luật đang xiết dần và chắc chắn sớm muộn sẽ bị nát vụn và gột sạch cho xã hội bình yên, đất nước ổn định và phát triển.

                                                                                     X. Ngọc



Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

PHỦ NHẬN QUYỀN CON NGƯỜI – THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM



                                                                            Lưu Quang
Các thế lực thùđịch hiện nay đang ra sức chống phá ta về mọi mặt vànhân quyền là một nội dung trọng tâm. Trong thời gian gần đây, lực lượng tham gia vào chiến dịch chống phá ta hiện nay có sự thay đổi theo hướng mở rộng về số lượng, thành phần, đối tượng. Với động cơ đen tối và tư duy chính trị bảo thủ, một số cơ quan, tổ chức phản động nước ngoài vẫn kỳ thị với chế độ chính trị và Nhà nước ta. Họ lấy vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm cái cớ để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Như tổ chức “điều trần” về “tình hình nhân quyền Việt Nam” và soạn thảo “Dự luật nhân quyền Việt Nam”… Trong đó, họ xuyên tạc, bôi đen tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG



Bông Hồng Đen
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang bước vào thời gian chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nhân dịp này những kẻ cơ hội chính trị, mang dã tâm chống phá đã đồng loạt tung các chiêu trò của mình được đăng tải trên các trang mạng và trên nhiều diễn đàn phản động.

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên: Nhận diện và phòng, chống



                                           Mừng Trịnh
 “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là một vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để nhận diện và phòng, chống thì việc tìm hiểu nguyên nhân và đề ra những giải pháp cơ bản giúp khắc phục vấn đề trên trong thực tiễn là cần thiết.

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM – SỰ XUYÊN TẠC CỦA NHỮNG KẺ KHÔNG HIỂU BIẾT


  Công Minh
Từ bao đời nay, Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo cùng tồn tại lâu đời cùng với dòng lịch sử của dân tộc. Mặc dù đức tin, giáo lý và sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nhưng đều có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa và luôn đồng hành cùng dân tộc cả trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Những kẻ đang ráo riết kích động, chống phá chỉ biết khoác lác rêu rao những điều vô căn cứ; mà chúng không hề hiểu rằng: những năm qua hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam luôn ổn định, đại bộ phận quần chúng tín đồ, nhà tu hành và chức sắc các tôn giáo hành đạo, gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật được đảm bảo. Đồng bào các tôn giáo yên tâm, phấn khởi xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG VÀ CAO ĐẸP CỦA “ĐỘC LẬP- TỰ DO”


GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG VÀ CAO ĐẸP CỦA “ĐỘC LẬP- TỰ DO”

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[1]. Âm hưởng thiêng liêng, hào hùng đó trong Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1945, cách đây 62 năm, nhưng vẫn in đậm trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, vẫn khơi dậy niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, vẫn thúc giục mọi người dân Việt Nam hãy luôn trân trọng, bảo vệ, gìn giữ những giá trị độc lập, tự do mà vì nó, bao thế hệ đã ngã xuống.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU ĐÒI THỰC HIỆN “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”


Namhv
 Trong thời gian qua, nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng việc đưa ra nhiều luận điểm phi lý, trong đó có việc thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Chúng nhai đi nhai lại rằng, chỉ có “đa nguyên, đa đảng” thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự và chính “đa nguyên, đa đảng” sẽ trở thành “cây gậy thần” giúp đất nước nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo (?).

"TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀM SUY GIẢM VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI


Thangpb
Qua nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy, hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong mỗi tổ chức chính trị-xã hội như: Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh... có những biểu hiện cụ thể khác nhau, nhưng đều gây nên những tác hại to lớn cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức đối với các tổ chức và mỗi con người trong các tổ chức ấy.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM



Việt Nam là dân tộc đa tôn giáo, tín ngưỡng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo luôn đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Sự thật là như vậy, song vẫn còn những ý kiến trái chiều, phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo ở Việt Nam
 Trước những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch càng hằn học, ra sức lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tự do tôn giáo” như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng không ngớt tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; rằng, “các địa phương vẫn tiếp tục đàn áp nhiều người Tin lành thiểu số”, “Việt Nam hiện có nhiều người bị giam giữ vì tôn giáo”, “bị cưỡng ép bỏ đạo”… Rất tiếc, nhiều năm qua, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn đưa ra những đánh giá thiếu thận trọng, khách quan, phản ánh sai lệch về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Họ cáo buộc một cách trắng trợn và lặp đi lặp lại luận điệu rằng: “Nhà nước Việt Nam đàn áp, tấn công giáo dân”, “ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo”; tự cho mình cái quyền đòi xếp Việt Nam trở lại danh sách “các nước đặc biệt quan tâm về tôn giáo”, khuyến nghị Tổng thống Mỹ ban hành các sắc lệnh trừng phạt Việt Nam về kinh tế, chính trị, ngoại giao…  Xâu chuỗi mọi vấn đề, có thể thấy rằng, trong lịch sử của dân tộc ta, việc lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ xâm lược hoặc gây mất ổn định đất nước là việc làm không còn lạ lẫm gì. Núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo”, các thế lực thù địch cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam về công tác tôn giáo; tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ giữa các nhóm, hệ phái tôn giáo ở trong nước; gây mâu thuẫn giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không có tín ngưỡng, tôn giáo, giữa đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an. Ngoài ra, họ còn ra sức tài trợ hoạt động truyền đạo trái pháp luật nhằm gây ra các “điểm nóng” về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Vậy sự thật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam như thế nào?
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (9-1945) đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định và nhất quán thực hiện chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; coi đây là vấn đề chiến lược của cách mạng và được cụ thể hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Ngày 14-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234/SL, nội dung nêu rõ: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện... Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Các Hiến pháp của nước ta đều ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của mọi công dân Việt Nam, cụ thể là: Điều 10 (Hiến pháp năm 1946); Điều 26 (Hiến pháp năm 1959); Điều 68 (Hiến pháp năm 1980); Điều 70 (Hiến pháp năm 1992)... Trong Chương 2 (Hiến pháp năm 2013) về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, ở Điều 24 đã khẳng định: “1- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định rõ những quan điểm, chủ trương về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo. Ngày 16-10-1990, Bộ Chính trị (khóa VI) đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”; trong đó, khẳng định hai luận điểm có tính đột phá là: “TN,TG là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân” và “Tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới”. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), Đảng ta đã thông qua Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003 “Về công tác tôn giáo”; trong đó, tiếp tục khẳng định: “TN,TG là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta”[1]. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật”[2]; đồng thời, xác định chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”[3]. Như vậy, quan điểm, chủ trương của Đảng ta về vấn đề này là không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn đánh giá cao vai trò của các tôn giáo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đáp ứng quá trình hoàn thiện pháp chế xã hội chủ nghĩa, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XI) đã ban hành “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” (số 21/2004/PL-UBTVQH 11), quy định rõ các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo… Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản pháp luật, như: Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01-3-2005 hướng dẫn thi hành một số điều của “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04-02-2005 “Về một số công tác đối với đạo Tin Lành”; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31-12-2008 “Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo”; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, ngày 08-11-2012 “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01-3-2005 của Chính phủ. Bộ Nội vụ đã có Thông tư số 01/2013/TT-BNV, ngày 25-3-2013 “Ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo”… Các bộ, ban, ngành liên quan cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Bức tranh chung về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam trong hơn 27 năm đổi mới đã chứng minh: Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo về cơ bản ổn định; hệ thống quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được bổ sung, hoàn thiện; công tác vận động quần chúng và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, về an ninh, trật tự ở cơ sở ngày càng được chú trọng, hướng hoạt động theo phương châm “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc”. Theo thống kê, đến năm 2013, cả nước có 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động; có khoảng 24 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước); khoảng 83 nghìn chức sắc và nhà tu hành, hơn 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 25 nghìn cơ sở thờ tự trên cả nước. Ngoài các tôn giáo lớn du nhập từ nước ngoài, như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Bà-la-môn,... còn có các tôn giáo nội sinh, như: Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam... Các tôn giáo ở nước ta, mặc dù độc lập về nghi lễ, nhưng gắn bó với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ đặc sắc, phong phú, được đông đảo người dân sùng kính, như: tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Vua Hùng, thờ Đức thánh Trần, Chúa Liễu Hạnh, v.v.
Việc mở trường đào tạo, bồi dưỡng chức sắc tôn giáo luôn được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi. Hằng năm, các tôn giáo đều cử tu sĩ đi học tập, hội thảo, trao đổi công việc liên quan đến tôn giáo với các nước. Một số tu sĩ đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về tôn giáo ở nước ngoài. Các cơ sở thờ tự được pháp luật Việt Nam bảo hộ và các cấp chính quyền tạo điều kiện cho xây dựng, tu sửa khang trang. Đến nay, cả nước có 14.321 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường. Đạo Thiên chúa có hơn 6.000 nhà thờ, nhà nguyện; đạo Tin lành có gần 500 nhà thờ, nhà nguyện; đạo Cao Đài có 1.284 thánh thất; Phật giáo Hòa Hảo có 522 chùa, hội quán; Hồi giáo có 89 thánh đường, hàng vạn ngôi đình, đền, miếu, phủ... Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở thờ tự của các tín ngưỡng dân gian trải dài khắp cả nước. Riêng đạo Tin lành ở các tỉnh Tây Nguyên, nếu như năm 1975 có hơn 50 ngàn tín đồ ở 200 buôn, đến nay tăng lên với gần 500 ngàn người ở hơn 18.000 buôn. Địa bàn Tây Nguyên và Tây Bắc hiện có gần 2.000 điểm nhóm đạo Tin lành đăng ký sinh hoạt tôn giáo với chính quyền địa phương. Các lễ trọng đại của các tôn giáo hằng năm và đại hội nhiệm kỳ của các tổ chức tôn giáo được tổ chức trọng thể, trang nghiêm, an toàn, với quy mô ngày càng lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự và đều được đại diện cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở địa phương đến chúc mừng. Nhiều lễ hội tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng, như: Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Nô-en của Công giáo và Tin Lành... Một số sự kiện hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công trên đất nước Việt Nam, điển hình như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (VESAK) tại Hà Nội (5-2008)[4]; Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI (năm 2009 - 2010); Lễ Khai mạc Năm Thánh của Giáo hội Công giáo (năm 2009); Lễ Bế mạc Năm Thánh và Đại hội hành hương La Vang lần thứ 29 (năm 2010); Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập giáo hội (năm 2011); các hệ phái Tin lành tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày Tin lành đến Việt Nam (năm 2011); Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X (12-2012)… Các tôn giáo của Việt Nam đã mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức tôn giáo các nước trong khu vực Đông Nam Á, Tây Âu, Mỹ, Ca-na-đa… Đặc biệt, quan hệ Việt Nam với Tòa thánh Va-ti-can ngày càng được đẩy mạnh. Hiện nay, Tòa thánh Va-ti-can đã bổ nhiệm Đặc phái viên không thường trú tại Việt Nam.
Các tổ chức tôn giáo duy trì tốt những hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển địa bàn hoạt động các chức sắc, chức việc. Chính quyền các cấp luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo in ấn kinh sách và những ấn phẩm liên quan đến tôn giáo. Những năm gần đây, trung bình mỗi năm Nhà xuất bản Tôn giáo cấp phép xuất bản hơn một nghìn ấn phẩm liên quan đến tôn giáo, với hơn hai triệu bản in. Đặc biệt, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm hỗ trợ hoàn thành in ấn, xuất bản 30.000 cuốn Kinh thánh bằng các tiếng: Ba-na, Ê-đê, Gia-rai; Kinh, sách Phật giáo Nam tông Khơ-me; Kinh thánh Tin lành bằng tiếng Mông hệ chữ cái La-tinh và làm thủ tục xuất bản Kinh Cô-ran song ngữ Việt Nam - Ả rập. Kinh sách của Phật giáo cũng đã được đưa vào kế hoạch in ấn bằng tiếng Khơ-me… Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn tiếp tục triển khai nhiều chương trình, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tập trung giải quyết vấn đề an sinh xã hội, phát triển văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân. Từ những thành tựu chủ yếu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thêm một lần chúng ta khẳng định: Ở Việt Nam, các hoạt động thuần tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến chương, điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chính quyền các cấp luôn tạo điều kiện cho đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, thực hiện đúng phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và CNXH”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính chúa, yêu nước”; vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của “con Lạc, cháu Hồng” đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của tín đồ đối với tôn giáo; hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta cũng còn những vấn đề phức tạp, dễ bị những phần tử xấu lợi dụng để kích động, gây rối, hậu thuẫn cho các thế lực thù địch phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đó là tình trạng mở rộng cơ sở thờ tự, nhà nguyện trái pháp luật; việc dựng tượng Thánh, tượng Chúa, tượng Phật trên đất công vẫn diễn ra ở một số nơi. Tình trạng chức sắc “phong chui”, “tự nhận” vẫn tiếp diễn; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái pháp luật vẫn xảy ra ở một số địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới. Việc lưu hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo trái phép nhập từ nước ngoài chưa được ngăn chặn triệt để. Đáng chú ý, có một số nhóm, hệ phái tôn giáo mâu thuẫn với nhau, dẫn đến hiện tượng tranh giành tín đồ, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Đặc biệt, các thế lực thù địch còn lợi dụng tôn giáo để tập hợp lực lượng, tuyên truyền, kích động nhân dân gây rối, bạo loạn, vi phạm pháp luật và các quy định của địa phương. Các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, đạo lạ, tà đạo có biểu hiện gia tăng trong những năm gần đây. Một số tổ chức phản động cũng núp dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp lực lượng, như “Hội đồng Công luật công án Bia Sơn”, “Cây Thập giá Chúa Giê-su Cờ-rít”, v.v. 
Mặc dù còn thực trạng đó, song, bức tranh về thành tựu tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay là những minh chứng sống động, đầy sức thuyết phục, được đồng bào các dân tộc ở trong nước thừa nhận, được dư luận thế giới ca ngợi. Ngay Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb - Chủ tịch Tiểu ban Đông Á - châu Á - Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, trong buổi gặp gỡ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã thừa nhận: Cho dù vẫn còn những quan điểm cá nhân về một vài vụ việc cụ thể liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận những tiến bộ về tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhất là từ năm 1991 đến nay[5]. Đó là những cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận quan điểm, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta trong công cuộc đổi mới. Đồng thời, là cơ sở để chúng ta kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”, “tà giáo”; lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tôn giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc và vì dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mọi mưu đồ xuyên tạc sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam để thực hiện mục đích phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải lên án, bác bỏ./.
 - Văn Ký -
Tài liệu tham khảo
[1] - ĐCSVN, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ (khóa IX), Nxb CTQG, H. 2003, tr. 48.
[2]- ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 81.
[3]- Sđd, tr. 245