Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra dự báo, năm 2022 kinh tế thế giới tăng trưởng
4,9%. Song, đi kèm với sự phục hồi kinh tế sẽ là rủi ro lạm phát, xu hướng tăng
giá hàng hóa cơ bản trên thế giới, xu hướng thu hẹp nới lỏng, tăng lãi suất, thắt
chặt tiền tệ và sự biến động phức tạp của thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu.
IMF cảnh báo sau khi đại dịch COVID-19 kết thúc, nhiều nền kinh tế có thể phải
tăng thuế để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước cùng với các điều chỉnh mang
tính cơ cấu (định hình lại chuỗi cung ứng, sản xuất toàn cầu, thay đổi nhân khẩu
học, phát triển kinh tế số,...) có khả năng tạo ra một giai đoạn lạm phát cao
hơn.
Trong
bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đưa ra các quyết sách hỗ trợ nền
kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đã chỉ đạo ngành ngân
hàng triển khai nhiều giải pháp căn cơ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và
người dân, duy trì vốn cho sản xuất, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Là nền
kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam có thể chịu tác động không nhỏ bởi những xu hướng
chung. Việc duy trì các giải pháp chính sách để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh
tế là cần thiết nhưng không thể chủ quan với áp lực lạm phát, đòi hỏi công tác
phối hợp chính sách phải thật chặt chẽ, nhịp nhàng về liều lượng, cách thức triển
khai, nhất là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
Theo
đánh giá của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay, điều hành chính sách tiền
tệ của Việt Nam khá phù hợp và nằm trong xu hướng chung của thế giới, ngành
ngân hàng đã đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn; điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính
sách thanh khoản và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch. Cụ thể:
Thứ nhất, ngân hàng nhà nước điều
hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng để bảo đảm thanh khoản, hỗ trợ
các tổ chức tín dụng sẵn sàng cung ứng đầy đủ và kịp thời vốn cho quá
trình phục hồi kinh tế; điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát,
diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, tạo điều kiện để giảm chi
phí vốn cho người dân, doanh nghiệp, và nền kinh tế; chỉ đạo các tổ chức
tín dụng tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại thời hạn
trả nợ, miễn, giảm lãi suất và tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi
đại dịch COVID-19; cân đối hài hòa giữa hỗ trợ nền kinh tế với mục tiêu kiểm
soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, phối hợp chặt chẽ với các bộ,
ngành để xây dựng các giải pháp chính sách giúp phục hồi và phát triển kinh tế
sau đại dịch COVID-19.
Thứ hai, chủ động thích nghi thông
qua chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ, để phát triển kinh tế trong
trạng thái “bình thường mới”. Ngành ngân hàng đã có nhiều giải pháp thúc đẩy mạnh
mẽ chuyển đổi số, hiện đại hóa hệ thống thanh toán và hoạt động ngân hàng, đẩy
mạnh áp dụng các giao dịch “phi tiếp xúc”. Đây là định hướng mà ngành ngân hàng
tiếp tục đẩy mạnh trong năm 2022 và những năm tới.
Thứ ba, đẩy mạnh các giải pháp về
cơ cấu lại và xử lý nợ xấu, đặc biệt là sau khi Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ
chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 được các cấp có thẩm quyền
phê duyệt, trọng tâm là tiếp tục chấn chỉnh, cơ cấu lại các tổ chức
tín dụng yếu kém để lành mạnh hóa, nâng cao năng lực tài chính cả về quy
mô và chất lượng, hiệu quả, bảo đảm an toàn hệ thống, đẩy mạnh xử lý nợ xấu nhằm
tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng lành mạnh hóa tình hình
hoạt động, nâng cao chất lượng tín dụng, năng lực tài chính và bảo đảm an toàn
hệ thống các tổ chức tín dụng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét