Hội nghị Trung ương 5
khóa XII của Đảng ban hành ba nghị quyết
quan trọng nhằm phát triển kinh tế trong đó có Nghị quyết số 10/NQ-TW (6/2017)
về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực
quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi nghị quyết
được ban hành, nhiều ý kiến cho rằng, quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của
Đảng Cộng sản Việt Nam có trái với lý luận Mác - Lênin, trái với luận điểm “xóa
bỏ tư hữu” mà C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến khi viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản (2/1848) hay không? Chúng ta phải khẳng định dứt khoát rằng: chủ trương
phát triển kinh tế tư nhân của Đảng không trái với lý luận Mác - Lênin về sở hữu
mà là sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm thực tiễn, thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Khi nghiên cứu xã hội
tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã nhìn thấy sự tồn tại nhiều mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chủ
nghĩa mà nổi bật là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đồ sộ, xã
hội hóa rộng lớn và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản. Các nhà tư bản tìm mọi cách để bóc lột ngày càng nhiều hơn giá
trị thặng dư, đẩy giai cấp
công nhân và nhân dân lao động đến
cuộc sống nghèo khổ mà Ăng ghen miêu tả như “cừu ăn thịt người”. Vì lẽ đó, nhất thiết phải thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ
sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà bộ phận quan trọng nhất trong đó là quan hệ sở hữu.
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản” (năm 1848), C. Mác và Ph.Ăng-ghen đã đưa ra luận điểm nổi tiếng cũng là mục đích cao cả của giai cấp vô sản: “Những người cộng sản có thể tóm tắt
lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”(1). Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu quan điểm
trên một cách biện chứng: mục
tiêu của giai cấp vô sản không phải là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà
chỉ là xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản, chế độ đẻ ra nạn người bóc lột người. C.Mác đã khẳng định: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là
xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”(2).
C. Mác và Ph.Ăng-ghen còn khẳng định, việc xóa bỏ chế độ tư hữu không phải dễ dàng, trong thời gian ngắn mà sẽ phải “kinh qua một quá trình rất khó
khăn và lâu dài trong hiện thực”. Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ
nghĩa cộng sản”, Ph. Ăng-ghen cho rằng: Không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức cũng y
như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để
xây dựng một nền kinh tế công hữu. Việc xóa bỏ chế độ tư hữu phải tuân theo các
quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội và được thực hiện triệt
để khi sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà
chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa.
Kế thừa những
quan điểm của C. Mác và Ph.Ăngghen về sở hữu, V.I.Lênin đã nhận thấy
rõ tầm quan trọng của việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định:
“Để thực sự giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có cuộc cách mạng xã hội,
xuất phát một cách tự nhiên từ toàn bộ sự phát triển của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, tức là phải thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, chuyển
các tư liệu đó thành sở hữu công cộng và thay thế nền sản xuất hàng hóa tư bản
chủ nghĩa bằng việc tổ chức sản xuất sản phẩm theo lối xã hội chủ nghĩa...”(3). V. I. Lê-nin cũng cho rằng
phải hiểu cặn kẽ chủ nghĩa xã
hội không có nghĩa là xóa bỏ tất cả các quyền sở hữu của quần
chúng nhân dân, mà chỉ xóa bỏ quyền sở hữu của bọn địa chủ và tư bản. Trên cương vị lãnh tụ nước Nga Xô viết (năm
1922 là Liên Xô), V.I.Lê-nin
đã đề ra và chỉ đạo thi hành Chính sách kinh tế mới (NEP). Với việc thực hiện Chính sách kinh tế mới, nước
Nga đã huy động được mọi nguồn lực, làm sống lại nền kinh tế của đất nước với chế độ đa sở hữu, đa thành phần
kinh tế, kể cả các thành phần phú nông và tư sản, đem lại sự khởi sắc nền kinh
tế - xã hội sau chiến tranh.
Chúng ta thấy rằng
trong các tác phẩm cũng như trong thực tiễn hoạt động cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.Lênin không bao giờ phủ nhận sạch trơn tư hữu nói chung mà chỉ xóa bỏ tư hữu
tư sản. Thậm chí, V.I. Lê nin còn còn vận dụng kinh tế nhiều thành phần, đa sở
hữu trong đó tạo điều kiện cho tư sản, phú nông và nông dân trong Chính sách
kinh tế mới (NEP), tạo động lực quan trọng để nước Nga Xô viết vượt qua thời khắc
khó khăn. Cố tình xóa bỏ tư hữu nói chung, hạn chế kinh tế tư nhân trong thời kỳ
quá độ là trái với tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin về sở hữu.
Khẳng định dứt khoát
phát triển kinh tế tư nhân không mâu thuẫn với luận điểm “xóa bỏ tư hữu” cũng cần
phải nắm chắc thực tiễn cách mạng và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vấn đề sở hữu. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đất
nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn vận dụng trung thành lý
luận chủ nghĩa Mác – Lê nin. Tuy nhiên, thời gian đầu, chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm. Đảng nhận thức rằng, có thể xác lập sớm một chế
độ công hữu, một quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng
sản xuất lạc hậu. Chính vì nhận thức chưa đúng như vậy, chúng ta đã nóng vội và
có phần duy ý chí khi xóa bỏ mọi hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai
hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Chúng ta cũng
không tuân theo quy luật kinh tế khách quan là lực lượng sản xuất quyết định
quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất phải luôn
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đại hội VI của Đảng
đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đến đây, Đảng ta khẳng định: “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi
khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự
chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(4). Đại hội cũng cho rằng: Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính
sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế… Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch
trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau… tạo nên môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc thực hiện chính
sách sử dụng và cải tạo nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng đã thừa nhận kinh tế nhiều thành phần
trong quá trình phát triển kinh tế bởi lẽ lực lượng sản xuất của chúng ta đang ở
nhiều trình độ khác độ thì tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều
hình thức sở hữu. Đây là bước nhảy vọt về tư duy lý luận, tư duy kinh tế của Đảng,
tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, đưa đất nước vượt
qua khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở tổng kết
20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội XI của Đảng đã thông qua
Cương lĩnh mới (bổ sung, phát triển năm 2011); trong đó xác định xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có đặc trưng nổi bật về kinh tế là: “… có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất
tiến bộ phù hợp” (5). Đây chính là định hướng
cơ bản của Đảng về lựa chọn chế độ sở hữu phù hợp với tình hình đất nước trong
giai đoạn hiện nay; đồng thời khẳng định tầm tư duy lãnh đạo và bản lĩnh chính
trị của Đảng.
Đến Đại hội XII, Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ
thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (6). Việc Đảng ta xác nhận “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” trong
phát triển đất nước, không chỉ xác nhận vai trò mới của kinh tế tư nhân mà còn
mở ra những cơ hội mới để thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn.
Hội nghị Trung ương 5,
khóa XII của Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo để phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu
dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để
phát triển kinh tế. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư
nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện
công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi
biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”. Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các
ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi
mới sáng tạo. Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của
các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn. Chăm lo bồi
dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng
yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh
nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với
xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao. Những quan điểm trên về phát triển
kinh tế tư nhân thực chất là Đảng đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lê nin về
vấn đề sở hữu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với lực lượng sản xuất
trong nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc
để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Như vậy, phát triển kinh tế tư nhân thành một
động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không mâu thuẫn với luận điểm “xóa bỏ tư hữu” mà là sự vận dụng sáng tạo của Đảng
ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Phát triển kinh tế tư nhân không những tạo
ra động lực, huy động sức sản xuất để đưa đất nước tiến lên mà còn đóng góp
quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lê nin về xây dựng và phát triển kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiện nay có rất nhiều thông tin xấu độc tràn lan trên các trang MXH, người đọc nên chọn những trang chính thống
Trả lờiXóa