Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CÓ TRÁI VỚI LUẬN ĐIỂM “XÓA BỎ TƯ HỮU”?



Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Đảng  ban hành ba nghị quyết quan trọng nhằm phát triển kinh tế trong đó có Nghị quyết số 10/NQ-TW (6/2017) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi nghị quyết được ban hành, nhiều ý kiến cho rằng, quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam có trái với lý luận Mác - Lênin, trái với luận điểm “xóa bỏ tư hữu” mà C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến khi viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (2/1848) hay không? Chúng ta phải khẳng định dứt khoát rằng: chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng không trái với lý luận Mác - Lênin về sở hữu mà là sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm thực tiễn, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Khi nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã nhìn thấy sự tồn tại nhiều mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa mà nổi bật là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đồ sộ, xã hội hóa rộng lớn và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản. Các nhà tư bản tìm mọi cách để bóc lột ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, đẩy giai cấp công nhân và nhân dân lao động đến cuộc sống nghèo khổ mà Ăng ghen miêu tả như “cừu ăn thịt người”. Vì lẽ đó, nhất thiết phải thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà bộ phận quan trọng nhất trong đó là quan hệ sở hữu. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848), C. Mác và Ph.Ăng-ghen đã đưa ra luận điểm nổi tiếng cũng là mục đích cao cả của giai cấp vô sản: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”(1). Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu quan điểm trên một cách biện chứng: mục tiêu của giai cấp vô sản không phải là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà chỉ là xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản, chế độ đẻ ra nạn người bóc lột người. C.Mác đã khẳng định: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”(2).
C. Mác và Ph.Ăng-ghen còn khẳng định, việc xóa bỏ chế độ tư hữu không phải dễ dàng, trong thời gian ngắn mà sẽ phải “kinh qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài trong hiện thực”. Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ph. Ăng-ghen cho rằng: Không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu. Việc xóa bỏ chế độ tư hữu phải tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội và được thực hiện triệt để khi sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa.
Kế thừa những quan điểm của C. Mác và Ph.Ăngghen về sở hữu, V.I.Lênin đã nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định: “Để thực sự giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có cuộc cách mạng xã hội, xuất phát một cách tự nhiên từ toàn bộ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là phải thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, chuyển các tư liệu đó thành sở hữu công cộng và thay thế nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng việc tổ chức sản xuất sản phẩm theo lối xã hội chủ nghĩa...”(3). V. I. Lê-nin cũng cho rằng phải hiểu cặn kẽ chủ nghĩa xã hội không có nghĩa là xóa bỏ tất cả các quyền sở hữu của quần chúng nhân dân, mà chỉ xóa bỏ quyền sở hữu của bọn địa chủ và tư bản. Trên cương vị lãnh tụ nước Nga Xô viết (năm 1922 là Liên Xô), V.I.Lê-nin đã đề ra và chỉ đạo thi hành Chính sách kinh tế mới (NEP). Với việc thực hiện Chính sách kinh tế mới, nước Nga đã huy động được mọi nguồn lực, làm sống lại nền kinh tế của đất nước với chế độ đa sở hữu, đa thành phần kinh tế, kể cả các thành phần phú nông và tư sản, đem lại sự khởi sắc nền kinh tế - xã hội sau chiến tranh.
Chúng ta thấy rằng trong các tác phẩm cũng như trong thực tiễn hoạt động cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin không bao giờ phủ nhận sạch trơn tư hữu nói chung mà chỉ xóa bỏ tư hữu tư sản. Thậm chí, V.I. Lê nin còn còn vận dụng kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu trong đó tạo điều kiện cho tư sản, phú nông và nông dân trong Chính sách kinh tế mới (NEP), tạo động lực quan trọng để nước Nga Xô viết vượt qua thời khắc khó khăn. Cố tình xóa bỏ tư hữu nói chung, hạn chế kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ là trái với tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin về sở hữu.
Khẳng định dứt khoát phát triển kinh tế tư nhân không mâu thuẫn với luận điểm “xóa bỏ tư hữu” cũng cần phải nắm chắc thực tiễn cách mạng và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề sở hữu. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn vận dụng trung thành lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin. Tuy nhiên, thời gian đầu, chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm.  Đảng nhận thức rằng, có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Chính vì nhận thức chưa đúng như vậy, chúng ta đã nóng vội và có phần duy ý chí khi xóa bỏ mọi hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Chúng ta cũng không tuân theo quy luật kinh tế khách quan là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đại hội VI của Đảng đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đến đây, Đảng ta khẳng định: Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(4). Đại hội cũng cho rằng: Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế… Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau… tạo nên môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc thực hiện chính sách sử dụng và cải tạo nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng đã thừa nhận kinh tế nhiều thành phần trong quá trình phát triển kinh tế bởi lẽ lực lượng sản xuất của chúng ta đang ở nhiều trình độ khác độ thì tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Đây là bước nhảy vọt về tư duy lý luận, tư duy kinh tế của Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh mới (bổ sung, phát triển năm 2011); trong đó xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có đặc trưng nổi bật về kinh tế là: “… có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” (5). Đây chính là định hướng cơ bản của Đảng về lựa chọn chế độ sở hữu phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay; đồng thời khẳng định tầm tư duy lãnh đạo và bản lĩnh chính trị của Đảng.
Đến Đại hội XII, Đảng  khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (6). Việc Đảng ta xác nhận “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” trong phát triển đất nước, không chỉ xác nhận vai trò mới của kinh tế tư nhân mà còn mở ra những cơ hội mới để thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn.
Hội nghị Trung ương 5, khóa XII của Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo để phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là  yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ  “lợi ích nhóm”.  Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao. Những quan điểm trên về phát triển kinh tế tư nhân thực chất là Đảng đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lê nin về vấn đề sở hữu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với lực lượng sản xuất trong nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Như vậy, phát triển kinh tế tư nhân thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không mâu thuẫn với luận điểm “xóa bỏ tư hữu” mà là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Phát triển kinh tế tư nhân không những tạo ra động lực, huy động sức sản xuất để đưa đất nước tiến lên mà còn đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lê nin về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1 nhận xét:

  1. Hiện nay có rất nhiều thông tin xấu độc tràn lan trên các trang MXH, người đọc nên chọn những trang chính thống

    Trả lờiXóa