Công cuộc đổi mới ở nước ta diễn
ra đã hơn 30 năm (1986-2017), là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp
phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành va phát triển về mọi mặt của Đảng
và nhân dân ta. Trong đó, một thành tựu lớn là Đảng và nhân dân ta nhận thức về
chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng rõ hơn.
Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự
lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp
với xu thế phát triển của lịch sử. Kế thừa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 đã phác họa mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng
với sáu đặc trưng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ
sung và phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển, làm cho mô hình CNXH đang
được xây dựng ở nước ta toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn. Đó là: "Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có
quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[1].
Mô hình CNXH mà Đảng ta xác định là sự vận dụng trung thành
và sáng tạo quan điểm Mác - Lê-nin về CNXH. Mục đích tối cao của CNXH là hướng
tới hạnh phúc của con người, tất cả vì con người. Đồng thời, lấy việc phát huy
sức mạnh của con người làm động lực chủ yếu để xây dựng thành công CNXH, tức là
"tất cả do con người". Mô hình trên cũng thể hiện sự quán triệt sâu sắc
tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. Mô hình ấy biểu hiện như một kết cấu tổng thể, ổn
định tương đối, nó không phải là một mô hình khép kín và cứng nhắc. Mô hình CNXH
thời kỳ đổi mới ở nước ta chứa đựng khả năng mở rộng nội hàm, tiếp tục bổ sung
những nét mới là kết quả của việc không ngừng nâng cao trình độ lý luận và tổng
kết thực tiễn phong phú, đa dạng. Nó là kết quả của sự kết hợp hài hòa cái phổ
biến và cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo nên một mô hình có tên gọi:
mô hình CNXH Việt Nam .
Nó thể hiện xu hướng gắn kết hợp lý tiến trình phát triển của CNXH với sự vận động
không ngừng của nhân loại đi lên phía trước, kế thừa những thành tựu tiến bộ của
loài người để xây dựng thành công CNXH.
Thực tế 30 năm qua đã chứng minh, với mô hình này, chúng ta
đã thu được những thành tựu, to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thời điểm hiện nay đã
có yêu cầu bức thiết và những điều kiện cơ bản đã chín muồi cho việc bổ sung
phát triển Cương lĩnh trong đó có mô hình CNXH của nước ta. Lãnh đạo công cuộc
đổi mới, nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên CNXH của nước ta có những đổi
mới sâu sắc. Nếu trước đây thường nói, nước ta quá độ lên CNXH "bỏ qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa", thì từ Đại hội lần thứ IX trong
các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước diễn đạt là: Nước ta quá độ lên CNXH
"bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa". Việc "bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa" được giải thích rõ về hai phương diện: Thứ nhất, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa (TBCN) là "bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa". Thứ hai, trong khi bỏ qua
những mặt đó, cần "tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học-công nghệ để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại". Nhận thức trên
đây là kết quả của sự đổi mới tư duy về CNXH, về mối quan hệ giữa CNXH và CNTB.
Tư duy "cũ" hiểu sự ra đời của CNXH là kết quả của sự phủ định triệt
để CNTB, từ đó có nơi có lúc cho rằng cái gì càng xa với CNTB thì càng gần với
CNXH. Tư duy mới phân biệt sự khác nhau về chất giữa CNXH và CNTB, nhưng đặt
CNXH và CNTB vào lịch trình chung của sự tiến hóa nhân loại qua năm hình thái kinh
tế - xã hội để xác định vị trí của CNTB như là một giai đoạn phát triển cao của
văn minh nhân loại và là nấc thang cận kề để loài người từ đó bước sang nấc
thang cao hơn là CNXH.
Trong thời đại ngày nay, trên phạm vi thế giới, sự nghiệp
giải phóng những người lao động bị áp bức, bóc lột, sự nghiệp giải phóng xã hội
khỏi tình trạng bế tắc đòi hỏi thay thế CNTB bằng một chế độ xã hội tiến bộ
hơn. Sự phủ định CNTB là một tất yếu lịch sử và đã thành hiện thực từ Cách mạng
XHCN Tháng Mười Nga (1917). Dù hiện nay CNXH thế giới đang lâm vào khủng hoảng,
xu hướng đó không hề thay đổi. Ở nước ta tiến trình của cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân kéo dài 30 năm đã đem lại những thành tựu to lớn, tạo nên những
tiền đề để nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Những thành tựu và những
tiền đề đó (nhất là những thành tựu trong lĩnh vực xây dựng kiến trúc thượng tầng
và những tiền đề về chính trị, xã hội), không dung nạp sự thống trị của quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Thậm chí, những thành tựu đó sẽ bị hủy
hoại, những tiền đề đó sẽ bị phủ định, nếu đất nước đi theo con đường TBCN. Nước
ta cần "tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế
độ tư bản" bởi vì:
Một là, "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng nước ta vẫn phải tôn
trọng quá trình lịch sử - tự nhiên của sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã
hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, đặc biệt, phải tôn trọng quá
trình lịch sử tự nhiên của lực lượng sản xuất, của các nhân tố kinh tế - kỹ thuật
mà xét đến cùng là những nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của
chế độ mới.
Hai là, từ một nước chậm phát triển, bằng "con đường rút ngắn"
đi lên CNXH, tất yếu nước ta phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài trong đó
có sự xen kẽ "những mảnh của chủ nghĩa xã hội" với "những mảnh của
CNTB" (Lê-nin). Trạng thái xen kẽ ấy làm cho các yếu tố của CNXH và các yếu
tố của CNTB vừa đấu tranh với nhau, vừa "chung sống hòa bình", vừa
bài trừ, vừa nương tựa, thâm nhập vào nhau.
Ba là, nước ta "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng không thể bỏ
qua quá trình phát triển có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn mà
CNTB đã từng trải qua: sản xuất hàng hóa; tiến hành cách mạng kỹ thuật - theo
nhu cầu phát triển biện chứng của kỹ thuật trong hiệp tác giản đơn, công trường
thủ công, đại công nghiệp cơ khí - để chuyển lao động thủ công thành lao động sử
dụng máy móc; mở rộng giao lưu trong nước và giao lưu quốc tế, khắc phục tâm lý
sản xuất nhỏ và tư tưởng phong kiến... Bốn là, "bỏ qua" chế độ TBCN
nhưng phải kế thừa những thành tựu tiến bộ mà loài người tạo ra trong chế độ
CNTB. Sau khi "bỏ qua" phần lạc hậu của CNTB (địa vị thống trị của
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN), chúng ta cần tiếp thu những
thành tựu của CNTB và sử dụng chúng vào mục tiêu xây dựng CNXH. "Bỏ
qua" chế độ TBCN, nhưng đồng thời sử dụng những thành quả văn minh trong
CNTB một cách chủ động và tự giác, chọn lọc kỹ lưỡng trong điều kiện mới - điều
kiện có nhà nước XHCN và với chủ thể mới là nhân dân lao động.
Nhận thức mới của Đảng ta về mô hình CNXH và con đường đi
lên CNXH đã được thể hiện nhất quán. Sự nhất quán đó sẽ tạo nên một nền tảng vững
chắc cho hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta
đã bắt đầu hình thành và sẽ từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Thành tựu đó có
ý nghĩa lớn nhưng vẫn là bước đầu.Vì, một mặt, nó cần được nâng lên trình độ
cao hơn về lý luận để trở thành một triết lý, hay nói cách khác - một bộ phận
chủ đạo trong chủ thuyết chung của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta; mặt khác,
nó phải được mở rộng sang mọi phương diện và các lĩnh vực quan trọng của công
cuộc xây dựng CNXH mà Nghị quyết của các Đại hội Đảng đã nêu thành nhiệm vụ trực
tiếp và đang được quan tâm sâu sắc. Thí dụ: vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất
XHCN chủ yếu dựa trên chế độ công hữu từ một nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu
hiện nay; vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh của thời kỳ khoa
học-công nghệ bùng nổ và xuất hiện kinh tế tri thức, đặc biệt là công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo con đường xã hội chủ nghĩa; vấn
đề xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, trong đó mấu chốt là xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội, kết hợp những
giá trị dân tộc truyền thống với những tinh hoa của nền văn minh hiện đại; vấn
đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh hội nhập và phải đối mặt
với những thách thức từ nhiều phía...
Điều kiện tiên quyết cho sự thành công của việc đồng thời
thực hiện hai nhiệm vụ nói trên là: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp
tục kế thừa và phát triển những kết quả nhận thức về mô hình và con đường đi
lên CNXH ở nước ta và luôn bám sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn
đổi mới của đất nước trong bối cảnh thế giới luôn có những thay đổi.
[1]
Đảng Cộng sản Việt Nam ,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN 2011, tr 70.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét