NẮM VỮNG NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
BÀI HỌC KINH NGHIỆM LỚN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Chủ
nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Dân tộc và giai cấp có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Dân tộc bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có
dân tộc chung chung, dân tộc phi giai cấp. Mỗi giai cấp có quan điểm riêng của
mình về vấn đề dân tộc và ở mỗi một thời đại lịch sử, đều có giai cấp đứng ở vị
trí trung tâm của thời đại đó. Từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, giai cấp tư
sản đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, giai cấp tư sản giương cao ngọn cờ
dân tộc, chống chế độ phong kiến lỗi thời. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười
Nga (1917), giai cấp vô sản đại biểu cho phương thức sản xuất mới, phương thức
sản xuất xã hội chủ nghĩa, là giai cấp duy nhất có khả năng nắm vững ngọn cờ
dân tộc, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, đưa dân tộc tiến lên.
Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi đã chặt đứt khâu yếu nhất
trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa đế
quốc; đồng thời, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
Cách mạng tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người,
mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội. Do đó, cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản
- con đường của Cách mạng tháng Mười Nga, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội
dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ
thống quan điểm của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là một
trong các nhân tố quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong hơn 90 năm qua. Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề
không thể thiếu để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là sự
bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Trên cơ sở đó, Người cũng chỉ ra những
điều kiện để đảm bảo cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của cách
mạng Việt Nam, như: có sự lãnh đạo của Đảng; có khối đại đoàn kết toàn dân trên
cơ sở liên minh công - nông - trí thức; có sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng
cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới…
Thực tiễn cách mạng thế giới cũng đã chứng minh, cách mạng giải
phóng dân tộc muốn đi đến thắng lợi triệt để tất yếu phải do giai cấp công nhân
lãnh đạo và phải phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tất cả các cuộc
cách mạng dân chủ tư sản, như: Cách mạng tư sản Mỹ (1776), Cách mạng tư sản
Pháp (1789)… dù tiến bộ đến đâu cũng vẫn là các cuộc cách mạng chưa triệt để,
nhân dân lao động vẫn cực khổ và họ luôn hướng tới một cuộc cách mạng khác.
Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường của các cuộc cách mạng ấy. Trên
thế giới, chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga (1917) là cuộc cách mạng triệt để nhất,
cuộc cách mạng đã “thành công đến nơi”. Bởi vì, nó đã giương cao ngọn cờ độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải
phóng giai cấp.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường của cách mạng
Việt Nam là giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Đây là yêu cầu khách quan của lịch sử, là đòi hỏi tất yếu của của cách mạng Việt
Nam trong thời đại mới. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định con đường cách
mạng Việt Nam là: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản”. Con đường đó biểu hiện sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nhờ đi theo con đường đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành
bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét