Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác
- Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng luôn bị các thế lực thù
địch tìm mọi thủ đoạn chống phá quyết liệt. Đặc biệt sau khi mô hình chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái
trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung; chủ nghĩa xã hội
chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được.Có rất nhiều quan điểm phê phán
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nhất là vào những thời điểm có
tính quyết định về đường hướng phát triển đất nước. Trước, trong và sau Đại hội
XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đưa ra các quan điểm sai trái, thù
địch, xuyên tạc, phủ nhận mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. - Từ khoá: Một số vấn đề trong đấu tranh; Kiên định con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam; xu thế phát triển của thời đại ngày nay.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội
chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
(CNXH) hiện thực trên thế giới. Từ một nước, CNXH hiện thực đã phát triển thành
một hệ thống, với những thành tựu to lớn và tính ưu việt nổi bật. Tuy nhiên, sự
sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX làm cho phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào giai đoạn khủng hoảng, tạm thời
thoái trào. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động và chủ nghĩa
cơ hội, xét lại ra sức công kích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và cho rằng: “Đi theo
chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế phát triển của thời
đại hiện nay”. Để đấu tranh vạch trần bản chất phản động, sự thiển cận về chính
trị, lý luận của quan điểm trên, cần phải nắm vững những vấn đề có tính nguyên
tắc dưới đây: Vấn đề thứ nhất, một mặt, cần có sự đánh giá khách quan về vai
trò to lớn của chủ nghĩa tư bản (CNTB) trong lịch sử xã hội loài người khi thực
hiện được những bước nhảy chưa từng có về lực lượng sản xuất. Trong “Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp tư sản,
trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng
sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước
kia gộp lại”.
Ngày nay, do sử dụng có hiệu quả các
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự phát triển của
lực lượng sản xuất đã làm cho của cải trong xã hội có sự gia tăng nhanh chóng.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, CNTB vẫn được xây dựng trên nền tảng chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên sự giàu có đó luôn thuộc về thiểu số giai cấp
tư sản thống trị, bóc lột; đại đa số công nhân, nhân dân lao động luôn có nguy
cơ bị đẩy vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói và ngày càng bần cùng hóa. Nhiều ông
chủ tư sản đang nắm giữ khối tài sản vài chục tỷ đô la - nhiều hơn tài sản của
một quốc gia nghèo. Theo báo cáo mới nhất của tổ chức Oxfam International (Liên
minh quốc tế của 17 tổ chức làm việc tại 94 quốc gia trên toàn thế giới để tìm
giải pháp lâu dài cho nghèo đói và bất công), trong danh sách 50 người giàu nhất
thế giới, có 29 người đến từ Hoa Kỳ. Ước tính 1% người giàu nhất thế giới hiện
đang nắm giữ số tài sản nhiều hơn 99% số người còn lại. Tại Mỹ, nhóm 1% này
cũng đang kiểm soát 42% tài sản trong nước. Việc nhiều công nhân và người lao động
ở các nước tư bản hiện nay đang sở hữu một lượng cổ phần, cổ phiếu nhất định và
có cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ không phải do sự hảo tâm của giai cấp tư
sản, càng không phải CNTB đã thay đổi về bản chất như nhiều người lầm tưởng, mà
đó là sự điều chỉnh, thích nghi của CNTB để kéo dài sự tồn tại và phát triển.
Thực tế, khoảng cách giàu nghèo ngày
càng gia tăng ở các nước tư bản và giữa các nước tư bản phát triển với các nước
đang phát triển. Hậu quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và các
chính sách tư nhân hóa, bãi bỏ hoặc cắt giảm phúc lợi xã hội,… đang đẩy hàng
triệu người lao động lâm vào cảnh mất việc làm. Ở Mỹ - đất nước được xem là
giàu có nhất thế giới hiện nay cũng có tới 10% người lao động thất nghiệp và
12% người dân sống trong cảnh nghèo đói. Bên cạnh đó, sự tranh giành quyền lực
giữa các thế lực đế quốc nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên để thu lợi nhuận ngày
càng cao dẫn đến các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và nảy sinh các tệ nạn
xã hội. Vũ khí hạt nhân được sản xuất hàng loạt và đang nằm trong tay giai cấp
tư sản luôn thường trực nguy cơ hủy diệt sự sống trên trái đất. Trong CNTB, mọi
thứ đều trở thành hàng hóa và bị quy thành tiền bạc, chủ nghĩa cá nhân, thói
ích kỷ, sự tham lam và lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền, làm yếu đi các
quan hệ cơ bản giữa con người với con người trong gia đình và xã hội. Chủ nghĩa
tư bản còn là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm môi trường, phá vỡ sự cân bằng của
tự nhiên và đe dọa đến sự sống của hàng tỉ người trên hành tinh này.
Như vậy, cùng với những quan điểm
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và bằng chính thực tiễn sự vận động, phát
triển của CNTB trong những thập kỷ qua đã giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá
khách quan, toàn diện, sâu sắc hơn về bản chất của chế độ xã hội và nguồn của cải
khổng lồ trong xã hội tư bản. Điều đó cho thấy, đi theo con đường CNTB, Việt
Nam không thể có được sự giàu có và nền độc lập, tự do thực sự cho mọi người
dân trong xã hội.
Vấn đề thứ hai, đưa đất nước đi theo
CNTB cũng không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay do cuộc
Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 đã mang lại - thời đại quá độ từ CNTB
lên CNXH và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Do vậy, nếu chỉ coi
sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bằng chứng để thừa
nhận thời đại hiện nay là của CNTB thì đó là một cách nhìn thiển cận, thiếu kiến
thức lịch sử và khoa học về thời đại. Vì quá trình ra đời, phát triển và thay
thế thời đại này bằng một thời đại khác phải trải qua một chặng đường lâu dài,
quanh co, phức tạp, chứa đựng cả bước tiến mạnh mẽ và cả sự tụt lùi, đổ vỡ. Hiện
nay, CNXH hiện thực mặc dù đang gặp nhiều khó khăn, nhưng xu thế phát triển tất
yếu của thời đại từ CNTB lên CNXH vẫn luôn tỏ rõ trong thực tế.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại
ở một số nước và khẳng định sức sống mãnh liệt, triển vọng phát triển. Những tư
tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng vẫn tiếp tục thẩm thấu trong nhận thức
và biến thành hành động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trên thế giới. Các định hướng về giải phóng lực lượng sản xuất, xóa bỏ áp bức,
bóc lột, bất công, sự phân hóa giàu nghèo,… để hướng tới một xã hội văn minh,
giàu mạnh vẫn là những giá trị cơ bản, phù hợp với tình cảm, nguyện vọng và lợi
ích của đại đa số nhân dân lao động. Đảng ta chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội trên thế
giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức
tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo
quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
Trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luận giải và khẳng định: “Ngay khi mới ra đời
và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn
khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân
dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu
của cách mạng Việt Nam”. Những nguyên nhân, kinh nghiệm rút ra từ thất bại và
cuộc khủng hoảng trong nửa cuối thế kỷ qua sẽ là bài học quý báu để CNXH hiện
thực tiếp tục cải cách, đổi mới và phát triển ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn.
không nghe những gì bọn phản động nói
Trả lờiXóa