Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2022

 

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

                                                       Chung Cake

Với ý đồ xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó chúng xác định chống phá về kinh tế là một mũi quan trọng và được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt

Trên lĩnh vực kinh tế, trước đây các thế lực thù địch thường chống phá bằng các hình thức như: tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận lý luận kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng, chính sách của Nhà nước; tiến hành phá hoại nền kinh tế thông qua các hoạt động viện trợ, đầu tư, liên doanh, liên kết; lôi kéo, dụ dỗ, làm tha hóa đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế. Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa tạo ra sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù định cũng có sự điều chỉnh, rất tinh vi và xảo quyệt.

Theo đó, chúng tập trung tìm cách phủ định tính khách quan và bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cho rằng, kinh tế thị trường mang bản chất chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với tính định hướng XHCN, do đó, trong chế độ XHCN không thể tồn tại kinh tế thị trường mà chỉ là mô hình cóp nhặt. Thậm chí có luận điểm cho rằng, Việt Nam thừa nhận kinh tế thị trường chính là đang mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, nhất là khi Đảng ta xác định phát triển thành phần kinh tế tư nhân “trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”.

Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được Đảng ta xác định là dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần song kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cho rằng: kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là tấm áo khoác XHCN mang nội dung tư bản, sở hữu toàn dân chỉ là một khái niệm. Thậm chí, bàn đến chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được xác định trong Hiến pháp năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” thì một số luận điệu cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm “mơ hồ”, “tù mù”, người dân không có thực quyền gì đối với đất đai... Họ dựa trên lập luận rằng: đã là chủ sở hữu thì đó phải là một chủ thể, một pháp nhân cụ thể, còn “toàn dân” không phải là một thực thể kinh tế có năng lực sở hữu, chỉ là sự đánh tráo khái niệm “sở hữu nhà nước về đất đai”.

Ở một góc độ khác, để đảm bảo yếu tố định hướng XHCN, nền kinh tế thị trường ở nước ta không phải là hoàn toàn tự do mà có “khuôn khổ” - đó là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN. Thế nhưng, các thế lực thù địch lại dùng chiêu bài khuếch đại nợ công, lợi dụng một số doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ và một số cán bộ cấp cao vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý… để tuyên truyền rằng đó là hậu quả của việc Nhà nước can thiệp sâu vào nền kinh tế. Chúng tập trung bài xích chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cho đó là cách thức để “tư nhân hóa tài sản nhà nước” một hình thức “tham nhũng” mới và “lợi ích nhóm”… nhằm kích động chia rẽ nội bộ. Tiếp đến, các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chính sách và thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhân dân ta. Chúng cho rằng, Việt Nam cần tự do hóa các nguồn vốn ngoại tệ, khuyến khích tăng giá đồng nội tệ, nới lỏng chuyển đổi tự do giữa đồng nội tệ và các ngoại tệ (nhất là với USD); thực hiện đồng bộ các giải pháp để tự do hóa thị trường tài chính, xây dựng ngân hàng trung ương thực sự độc lập…

Bên cạnh chiêu trò xuyên tạc chính sách, thành tựu phát triển kinh tế, các thế lực thù địch còn tìm mọi cách phủ nhận chức năng quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh. Thậm chí chúng còn ra sức kêu gọi: “Hãy để khối dân sự được tham gia vào những dự án quốc phòng, kể cả sản xuất và mua bán vũ khí”; “Đã đến lúc Việt Nam nên thay đổi tư duy và chính sách để tạo nền tảng cho sự hình thành của những tập đoàn công nghiệp nặng lưỡng dụng quốc phòng và dân sự theo mô hình của Nhật”.

Do đó, để tiếp tục, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế, thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Một là, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, làm sáng tỏ đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng.

Theo đó, cần tập trung vào công tác nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn. Luận giải sâu sắc cơ sở khoa học của đường lối hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đường lối phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh hoạt động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, gắn với kiên quyết đấu tranh chống mọi thủ đoạn lợi dụng kinh tế để chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, phát huy “thế trận lòng dân” trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp trên cơ sở thế trận lòng dân. Vì vậy, để đấu tranh với mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành cần chú trọng phát huy giá trị truyền thống là yêu nước, lòng tự hào, tự cường của dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước Việt Nam cường thịnh, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Kiên quyết bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện, gắn kết hài hòa phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh. Chú trọng phát huy vai trò của Quân đội trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là vai trò của các khu kinh tế - quốc phòng, doanh nghiệp quốc phòng…

Ba là, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế thông qua khuếch đại nạn tham nhũng, lãng phí và xem đó là mảnh đất màu mỡ để tồn tại. Vì vậy, cần phải tiến hành tốt công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong toàn xã hội; xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm công tác quản lý kinh tế - tài chính; chú trọng giải quyết nợ công, xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản nhà nước thất thoát do tham nhũng, lãng phí… Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Bốn là, tăng cường tính công khai minh bạch trong hoạt động kinh tế, thương mại.

Trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, mọi thông tin liên quan đến các hoạt động kinh tế, thương mại đều cần sự công khai, minh bạch và tuân thủ theo các quy định quốc tế. Việt Nam vẫn đang trong quá trình hội nhập và hoàn thiện thể chế kinh tế, do đó, sự công khai, minh bạch các vấn đề liên quan đến kinh tế, thương mại, đầu tư, sử dụng vốn… là biện pháp cần thiết để các thế lực thù địch, phản động không có cớ suy diễn, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng việc mở cửa, hội nhập để chống phá.

Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam bằng những chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Với những thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế, chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chung sức, đồng thuận của cả dân tộc, đất nước ta sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ, từng bước “sánh vai với các cường quốc năm châu” trên thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

 

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ ĐỂ CHỐNG PHÁ

KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Chung Cake

 

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”. Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 6 chương trình tiếng Việt chuyên sâu về đề tài dân tộc thiểu số; 13 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số phủ sóng tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc ít người tại Tây Bắc, Đông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; hơn 400 chương trình phát thanh (giai đoạn từ 2011-2021) để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số về Chương trình 135, cải thiện sinh kế, nâng cao nhận thức của đồng bào về vấn đề quyền con người...

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số./.

 

PHẢN BÁC MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU CỦA ĐÀI Á CHÂU TỰ DO

Chung Cake

 

Trên trang facebook: Đài Á Châu tự do, bút danh RFA đăng bài “Hội nghị 6 Ban chấp hành trung ương Đảng nhóm họp trong tâm lý bất an”; với mưu đồ công kích, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài viết Y đã lộng ngôn cho rằng Đảng ta đã “Tước quyền dân chủ trong đảng” và “công tác cán bộ đều do Đảng nắm hết” nhằm tạo sự hoài nghi, tâm lý hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Thứ nhất, trong xây dựng Cương lĩnh, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Kể từ khi thành lập, đặc biệt là trong những năm đổi mới, những quyết định lớn, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, từ dự thảo Cương lĩnh đến dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng đều được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng, đảng viên và của cả hệ thống chính trị. Nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó quy định rõ việc trước khi ban hành và trong quá trình thực thi các chủ trương, chính sách đều được lấy ý kiến giám sát và phản biện. Đối với những vấn đề lớn, nhạy cảm đều được xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, các đồng chí nguyên là lãnh đạo cao cấp… Đặc biệt, từ sau Đại hội VIII, Đảng ta đã thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương - có chức năng tư vấn lý luận chính trị, mở rộng dân chủ trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.

Thứ hai, trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Từ sau Đại hội IX của Đảng, chế độ thực hành dân chủ trong Đảng ngày càng được mở rộng. Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường các hình thức giao ban, hội nghị, tọa đàm, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên và Nhân dân. Đảng ta đã ban hành nhiều quy chế, quy định, hướng dẫn thực hiện việc phê bình, chất vấn tại các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hoặc trong thời gian giữa hai kỳ họp, cụ thể: Quy định số 23-QĐ/TW, ngày 15/01/2002, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về thực hiện việc phê bình, chất vấn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quy chế chất vấn trong Đảng, ban hành kèm theo Quyết định số 158-QĐ/TW, ngày 12/5/2008, của Bộ Chính trị khóa X; Hướng dẫn số 02-HD/TW, ngày 8/6/2012, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về thực hiện việc chất vấn trong Đảng tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp”. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành Quyết định số 168-QĐ/TW, ngày 28/12/2018 về việc ban hành Quy chế làm mẫu của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phải: “phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”.

Thứ ba, trong công tác cán bộ, nhất là lựa chọn đảng viên để giới thiệu ứng cử, bầu vào các chức danh lãnh đạo. Để đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung chỉ đạo nghiên cứu, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc thực hiện dân chủ trong công tác cán bộ như: Thông báo số 13-TB/TW, ngày 17/8/2016 của Ban Bí thư về xác định tuổi của đảng viên; Kết luận số 24- KL/TW, ngày 15/12/2017 về nguyên tắc điều động, phân công bố trí công tác đối với cán bộ diện Trung ương quản lý; Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4/8/2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 8/3/2018 về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị; Quy định số 179-QĐ/TW, ngày 25/2/2019 về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền… Đặc biệt, để chuẩn bị tốt nhân sự cho đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, trong đó xác định rõ quy trình 5 bước lựa chọn nhân sự với những quy trình dân chủ, chặt chẽ, phát huy trí tuệ và sự đồng thuận của tập thể.

Những nội dung nêu trên là minh chứng rõ nét để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của Đài Á Châu tự do cũng như các thế lực thù địch, phản động; mỗi người dân chúng ta cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không để mắc mưu của chúng./.

 

SỰ XUYÊN TẠC CỦA NGUYỄN QUANG DY TRONG BÀI VIẾT

 “THAY ĐỔI TƯ DUY VÀ HỆ QUY CHIẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN”

Chung Cake

 

Mới đây trên trang “Vietstudies. com”, Nguyễn Quang Dy đã tán phát bài viết “thay đổi tư duy và hệ quy chiếu để phát triển”. Trong đó chứa đựng những mưu đồ đen tối của y:

Thứ nhất, Y cho rằng, Việt Nam đã đổi mới “vòng một” thành công từ năm 1986, chuyển đổi nền kinh tế “tập trung” và “bao cấp” thành kinh tế thị trường, nhưng còn bất cấp vì vẫn giữ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nay động lực đổi mới đã hết đà, cần đổi mới “vòng hai”, không chỉ về kinh tế mà còn về thể chế chính trị.

Chúng ta đều biết đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất và mục tiêu xã hội chủ nghĩa; đổi mới nhằm tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản; bằng những quan niệm đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn này, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong các quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; khẳng định tiếp tục thực hiện “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt”; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức mạnh chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đảng ta đặc biệt quan tâm và giải quyết đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, đây cũng là khâu đột phá trong đổi mới tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng. Theo dữ liệu World Economic League Table 2022 của Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh (CEBR), Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 20 thế giới vào năm 2036. Cụ thể, năm 2021, Việt Nam đứng thứ 41 thế giới về quy mô kinh tế và dự báo năm 2022 sẽ tăng 5 bậc lên vị trí thứ 36. Đến năm 2026, CEBR dự báo Việt Nam sẽ lọt tốp 30 nền kinh tế lớn nhất, năm 2031 sẽ đứng thứ 24 và năm 2036 vươn lên đứng thứ 20. Đạt được điều này là do có sự lãnh đạo đúng đắn, khoa học của Đảng nên đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân. Cùng với bảo đảm sự phát triển đồng bộ của cả kinh tế và chính trị, thực tiễn đất nước và quốc tế luôn được Đảng lấy làm tiêu chuẩn để điều chỉnh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Quan điểm này tiếp tục chỉ đạo, soi sáng việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thời gian tới của Đảng ta. Điều này hoàn toàn không như những gì mà Nguyễn Quang Dy xuyên tạc.

Thứ hai, Nguyễn Quang Dy còn cho rằng: “trong khi bảo tồn văn hóa truyền thống, Việt Nam cần thay đổi tư duy và hệ quy chiếu theo hướng phi truyền thống”. Điều này thực chất là nhằm phủ nhận giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.

Việt Nam là một đất nước với hàng nghìn năm lịch sử, đã tạo ra và phát huy được giá trị, bản sắc văn hóa riêng, làm nên hồn cốt của dân tộc; đồng thời, tiếp thu và đóng góp vào nền văn hóa chung của nhân loại. Đảng ta xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, coi đây là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Từ những khái quát đó cho thấy, nhận thức của Đảng ta về văn hóa đã được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa trong thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xứng tầm với sự nghiệp đổi mới và truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc.

Như vậy, luận điệu trong bài viết của Nguyễn Quang Dy là sự xuyên tạc, chống phá quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, dân tộc. Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật, mưu đồ đó không thể lừa gạt được người dân Việt Nam.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ UY TÍN CỦA ĐẢNG

Chung Cake

 

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, nhằm tạo tiếng vang, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Vì thế, nhận diện và kiên quyết đấu tranh bảo vệ uy tín của Đảng; định hướng nhận thức tư tưởng, hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là vấn đề cấp thiết, lâu dài.

Với phương châm: “mưa dầm thấm lâu”, hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã, đang trở nên vô cùng nguy hiểm, ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh và nền tảng tư tưởng của Đảng, giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Do đó, đấu tranh ngăn chặn, phản bác hoạt động chống phá, bảo vệ Đảng, chế độ cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ; trong đó, tập trung thực hiện một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

 Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với nhiệm vụ quan trọng này. Chúng ta biết, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trước đây, hiện nay và sau này sẽ không bao giờ thay đổi, thậm chí còn ráo riết và ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều đó cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng và uy tín, thanh danh của Đảng là vấn đề cốt lõi, quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ, cũng như vận mệnh chính trị của đất nước, dân tộc. Vì thế, phải đặt công tác này dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, của cấp ủy, chính quyền các cấp cùng sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, ngành ở Trung ương và địa phương cần tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; triển khai quyết liệt, thực chất, thường xuyên với ý chí, quyết tâm cao, có sức thuyết phục, tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Quá trình thực hiện, chú trọng phát huy trí tuệ, tâm huyết của tập thể, các tầng lớp nhân dân, nhất là các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong đấu tranh với hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chuyên sâu theo chức năng, nhiệm vụ chủ động làm việc, yêu cầu các nhà mạng ngăn chặn, bóc gỡ các trang web, blog có nội dung xấu độc và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật.

Hai là, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận. Các cấp, ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị, nhất là cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông tăng cường đổi mới phương thức thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhận thức rõ bản chất, mục đích của những thông tin, luận điệu xuyên tạc, chống phá. Từ đó, nêu cao cảnh giác, có khả năng nhận diện và “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá, nhất là dịp diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng. Đồng thời, chủ động cập nhật, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống về các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương, Đại hội Đảng toàn quốc; công khai, minh bạch thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết các vấn đề phức tạp, gây bức xúc, nhất là những vấn đề nhạy cảm cả trước, trong và sau khi diễn ra sự kiện để định hướng nhận thức, hành động cho các tầng lớp nhân dân. Các cấp, ngành, địa phương mà nòng cốt là cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông tích cực tổ chức lực lượng viết bài đấu tranh phê phán, phản bác với lập luận sắc bén, thuyết phục nhằm bác bỏ thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, thanh danh, vai trò lãnh đạo của Đảng. 

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm, vi phạm pháp luật, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cao cấp diện Trung ương quản lý, đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các tổ chức, lực lượng và cả hệ thống chính trị tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với nhiều biện pháp quyết liệt đồng bộ, theo tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tập trung thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tăng cường các biện pháp quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đề cao đấu tranh tự phê bình và phê bình; chấp hành nghiêm quy định của công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy lãnh đạo những cán bộ, đảng viên yếu kém, không đủ phẩm chất, năng lực, quan liêu, sách nhiễu. Thông qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Bốn là, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đây là thực tiễn, minh chứng sinh động nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá vô căn cứ của các thế lực thù địch; đồng thời, khẳng định vai trò, vị thế, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với đất nước và toàn xã hội. Vì vậy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối, nghị quyết lãnh đạo của Đảng, các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đi đôi với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Để khắc phục sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền, Đảng, Nhà nước chú trọng quan tâm, đề ra chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển, đảo. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển ngay từ địa phương, cơ sở, không để xuất hiện, hình thành các “điểm nóng” để kẻ địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy.

Đấu tranh với hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị bảo vệ nền tảng tư tưởng, uy tín của Đảng là “cuộc chiến” đầy cam go, thách thức, song với sự quyết tâm, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta nhất định thành công, tạo cơ sở thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

1 nhận xét:

  1. Đấu tranh chống lại các phần tử phản động là nhiệm vụ của mỗi chúng ta

    Trả lờiXóa