CHÍNH SÁCH NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
VỀ TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO
Bút
Sắt
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. C.Mác từng khẳng định “đặc quyền
tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người”. Kế thừa và vận dụng sáng tạo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những
đã cụ thể hóa nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn bổ sung, nâng tầm
ý nghĩa của tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo Người, tự do tín ngưỡng tôn giáo
là nhu cầu của nhân dân, là quyền con người không ai được xâm phạm. Bởi vậy,
năm 1945, chỉ một ngày sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc thực hiện chính
sách tôn trọng tự do tôn giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sáu vấn đề cấp
bách nhất cần giải quyết. Người nói: “Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng
bào lương với đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín
ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”.
Hiến pháp năm 1946 khẳng định mọi
“công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Đến Sắc lệnh 223/SL ngày 14 - 6
- 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy”.
Các Hiến pháp sau này tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới khi khẳng định
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người, được Nhà nước thừa nhận,
tôn trọng và bảo vệ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc
không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước
tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Trong suốt hơn 35 năm kể từ công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn
trọng. Ngày 16 - 10 - 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về
“Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, tạo bước ngoặt trong công
tác tôn giáo. Sau 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24, ngày 12 - 3 - 2003, tại Hội
nghị Trung ương lần thứ VII (khoá IX), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban
hành Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW về công tác tôn giáo, tiếp tục hoàn thiện các
quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo. Đặc biệt, trong các văn kiện qua
các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán khẳng định sự tôn trọng đối
với quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội
XIII của Đảng ta đã xác định: “Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo
quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những
giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp
phát triển đất nước”.
Nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm
2013, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIV, ngày 18 - 11 - 2016, đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, tạo hành lang
pháp lý quan trọng cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Văn bản này đã đánh
dấu một bước ngoặt cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của
Việt Nam, cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo phù hợp với chủ trương cải
cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, bảo đảm lợi
ích của dân tộc và của các tổ chức tôn giáo.
Như
vậy, có thể thấy, quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam
là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân được thực hiện quyền tự
do tôn giáo, tín ngưỡng; đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do
tín ngưỡng, tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét