Với tư duy sáng tạo và tỉnh táo
nhạy bén về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định và thực hiện nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ
quốc tế, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất
nước trên trường quốc tế.
Tư tưởng mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa
phương các quan hệ quốc tế trong
đường lối đối ngoại của Đảng ta thể hiện quan điểm độc lập tự chủ, không để bất
cứ một thế lực nào lôi kéo. Điều đó phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế hiện
nay. Độc lập tự chủ trong hoạt động đối ngoại chính là tự mình quyết định các
vấn đề về đường lối, chính sách, các mục tiêu và các quyết sách về đối ngoại
phù hợp với lợi ích và nghĩa vụ quốc gia, thích ứng với xu thế thời đại. Đó
chính là thực hiện quyền tự quyết trong quan hệ quốc tế, không chịu sự áp đặt
về ý đồ và quyền lợi từ bất cứ phía nào. Đa phương hóa là nói đến nhiều đối tác
trong quan hệ, nhưng vẫn có ưu tiên nhất định đối với các đối tác truyền thống
và “đối tác chiến lược”; đa dạng hóa là nói đến việc sử dụng nhiều hình thức
quan hệ để thực hiện đa phương hóa. Đây là chính sách ngoại giao mềm dẻo, cho
phép ta “thêm bạn, bớt thù”, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để tranh thủ các
nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước.
Thực tiễn thành tựu quá trình
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ quốc tế đã đem lại cho đất nước ta những kết quả to lớn trên nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực. Cụ thể:
Một là, chúng ta đã phá được thế bị
bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, tạo được môi trường hòa bình, ổn
định, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Nhờ những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới và chính sách đối
ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chúng ta đã làm thất
bại chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các thế lực thù địch với cách mạng
Việt Nam. Không những thế, chúng ta còn phát triển được quan hệ ngoại giao với
hơn 172 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặc
biệt, lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ với tất cả các nước, trung
tâm chính trị- kinh tế lớn trên thế giới.
Trong khu vực, chúng ta đã xây dựng được mối
quan hệ hợp tác, hữu nghị ổn định và đan xen lợi ích với tất cả các quốc gia
láng giềng như Lào và Campuchia. Đặc biệt, việc cải thiện và phát
triển quan hệ hữu nghị với Trung Quốc là một trong những thành công lớn của
chính sách đối ngoại của nước ta. Quan hệ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” đã được thiết lập trên cơ sở Tuyên
bố chung cấp cao hai nước vào tháng 2 năm 1999. Kể từ sau bình thường hoá, quan
hệ Việt- Trung được cải thiện, phát triển nhanh chóng và toàn diện từ chính
trị, kinh tế, văn hoá khoa học- kỹ thuật, giáo dục và đào tạo đến quân sự. Từ
năm 1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và có
nhiều đóng góp tích cực, góp phần vào việc củng cố đoàn kết, ổn định trong khu
vực. Bên cạnh đó, nước ta cũng đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ vào
tháng 7/1995 sau một thời gian dài Mỹ duy trì chính sách cấm vận thù địch với
Việt Nam, hiện nay quan hệ Việt- Mỹ đã có những bước tiến quan trọng, Mỹ trở
thành một trong 10 đối tác đầu tư và thương mại lớn nhất của Việt Nam. Bình
thường hoá quan hệ với Mỹ đã tạo ra điều kiện thuận lợi để Việt Nam tham gia
các cơ cấu, thể chế hợp tác quốc tế đa phương rộng lớn.
Việt Nam cũng chủ động duy trì và thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các nước bạn bè truyền thống như Nga,
Cu Ba, Ấn Độ, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ; các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập; khôi
phục và củng cố quan hệ hợp tác với các nước châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh. Tham gia hội nhập kinh tế với khu
vực và quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của
ASEAN, tham gia ngày càng sâu rộng vào các định chế kinh tế, tài chính, thương
mại của ASEAN như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN
(AIA); là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh
tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC); là thành viên chính thức của WTO; có quan hệ
chặt chẽ với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)…
Hai là, thông qua việc giải quyết tốt các mối quan hệ quốc tế,
giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, hoạt
động đối ngoại đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc đổi mới và phát
triển kinh tế.
Hoạt động đối ngoại luôn ý thức rõ tầm quan trọng của yêu cầu bảo đảm an
ninh quốc gia, đấu tranh với những hoạt động xâm phạm độc lập chủ quyền của ta,
chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và các hoạt động lợi dụng chiêu bài “dân
chủ”, “tự do tôn giáo” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Chúng ta
đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những vấn đề tồn tại biên giới với
các nước láng giềng nhằm củng cố quan hệ với các nước liên quan, góp phần củng
cố hào bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước, góp
phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đi theo hướng đó, chúng ta đã ký hiệp
định biên giới với Lào, đã thỏa thuận khai thác chung với Malaixia trên vùng
biển chồng lấn, đã phân định vùng chồng lấn với Thái Lan và thực hiện các đơỵ
tuần tra chung trên vùng biển chồng lấn, đã ký Hiệp định về biên giới trên bộ
và phân định vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, giải quyết một số vấn đề tồn tại về biên
giới với Campuchia, tiếp tục đàm phán với Inđônêxia về phân định thềm lục địa…
Mặt khác, hoạt động đối ngoại không chỉ phục vụ cho việc hoạch định chính sách
kinh tế, đặc biệt là công tác nghiên cứu, tham mưu, thông tin, vận động viện
trợ, thu hút đầu tư, mở rộng các thị trường buôn bán, lao động, du lịch mà còn
tích cực tham gia giải quyết vướng mắc trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với
các nước khác, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế trong nước.
Ba là, sự phát
triển mạnh mẽ và trưởng thành vượt bậc của hoạt động ngoại giao đa phương kết hợp chặt chẽ với các mối quan hệ
song phương đã góp phần ngày càng nâng
cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới; nhất là đối với các tổ chức
quốc tế như: Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN, ASEM, Cộng đồng
các nước có sử dụng tiếng Pháp… tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng quan hệ đối
ngoại, tranh thủ ngoại lực để phát triển kinh tế- xã hội. Đồng thời, chủ động
tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các hoạt động đối ngoại phong phú, đa dạng
đã góp phần duy trì và củng cố quan hệ đoàn kết hữu nghị với các đảng phái
chính trị, trước hết là các Đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức tiến bộ đấu
tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ về
chính trị có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, công tác
đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được coi trọng hơn góp phần từng
bước xoá bỏ sự ngăn cách
giữa người Việt ở nước ngoài và người Việt ở trong nước; đồng thời động viên và
tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, tích cực tham
gia đóng góp sức người sức của cho công cuộc xây dựng đất nước. Công tác đối
ngoại cũng đã góp phần xứng đáng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt
Nam ở nước ngoài và hỗ trợ kiều bào hội nhập với đất nước họ đang sinh sống và
làm việc. Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại đã có bước trưởng thành quan
trọng, đã triển khai thực hiện có kết quả đường lối và các chủ trương, chính
sách đối ngoại của Đảng.
Những thành tựu to lớn
của công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới theo chủ trương đa dạng hoá, đa
phương hoá quan hệ quốc tế của Đảng ta đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo
của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định bản lĩnh lãnh đạo
của Đảng ta và khả năng của đất nước ta vững vàng vượt qua mọi thử thách của
thời gian và thời cuộc để vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Những thành tựu đó đã tạo tiền đề thuận lợi và cần
thiết để chúng ta phát huy hơn nữa vai trò của đối ngoại trong bối cảnh tình
hình mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng thêm thế và lực cho
đất nước để nắm bắt vận hội mới, đồng thời đối phó với thách thức mới. Ngày
nay, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau, chúng ta phải chủ
động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực
mới; đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ,
kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảm phát triển đúng hướng. Để tiếp tục
phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong công cuộc đổi mới và vươn tới
mục tiêu cao cả “xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta cần tiếp tục kiên trì
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế./.
KH
Việt Nam đã đi rất đúng hướng, cho nên đất nước mới phát triển mạnh mẽ như vậy
Trả lờiXóa