Từ khi thành lập đến nay,
Nhà nước Việt Nam luôn cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh; qua đó góp
phần phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, góp phần xây dựng một đất
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Vấn
đề tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam là một trong một số vấn đề mà dư luận ở
phương Tây thường quan tâm trong các diễn đàn quốc tế về việc bảo đảm quyền con
người. Tuy nhiên, do thiếu thông tin và còn giữ một số định kiến, cho nên vẫn
có người chưa hiểu hết, chưa hiểu đúng tình hình tôn giáo ở Việt Nam và chính
sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam cùng các thành tựu đã đạt được trong việc
tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm hoạt động tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo của người dân. Nhất quán với quan điểm của Đảng và Nhà nước, để bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, hơn nửa thế kỷ qua, hệ thống pháp luật
ở Việt Nam luôn được điều chỉnh và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn cũng
như bảo đảm sự tương thích quốc tế. Đã có hơn 100 văn bản pháp luật có nội dung
điều chỉnh về tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành mà điển hình như: Nghị định
69/HĐBT (năm 1991) về các hoạt động tôn giáo; Nghị định 26/NĐ-CP (1999) Về các
hoạt động tôn giáo (cùng các thông tư hướng dẫn thi hành); Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định
22/2005/NĐ-CP (năm 2005) Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo; Nghị định 92/2012/NĐ-CP (năm 2012) Quy định chi tiết và biện
pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 01/2005/CT-TTg (năm 2005)
Về một số công tác đối với đạo Tin lành; Chỉ thị 1940/CT-TTg (năm 2008) của Thủ
tướng Chính phủ Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo;... Ngoài ra còn nhiều văn
bản quy phạm pháp luật có điều khoản điều chỉnh lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai,...
Đặc
biệt ngày 28-11-2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Hiến pháp năm
2013, và so với các Hiến pháp trước đây đã có rất nhiều nội dung được sửa đổi,
trong đó có nội dung liên quan quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Lần đầu quyền
này xác định không phải chỉ công dân mới có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà
là quyền tự thân, vốn có của mọi người và được Nhà nước bảo hộ. Như Điều 24
Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật;
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Không ai
được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
vi phạm pháp luật”. Gần đây, ngày 18-11-2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được
Quốc hội xem xét, thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2018. Phải khẳng định
rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới được thông qua là một dấu mốc quan trọng
khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối
với nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, qua đó khuyến
khích mọi người dân góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để xây dựng
đất nước Việt Nam ngày càng phát triển.
Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 chương, 68 điều, có tính kế thừa từ quy định của
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92/2012/NĐ-CP (năm 2012) của Chính
phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Đồng thời, Luật bổ sung các quy định mới nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Từ tháng 10-2014, Dự thảo của Luật Tín ngưỡng, tôn
giáo đã được triển khai lấy ý kiến của các chuyên gia, công dân, tín đồ, chức
sắc tôn giáo tại các hội nghị, hội thảo, qua in-tơ-nét (internet) và đồng thời
cũng nhận được một số ý kiến đóng góp của các cá nhân, học giả, các tổ chức
Quốc tế. Qua các cuộc tiếp xúc với đại diện một số đại sứ quán, Liên hiệp châu
Âu, các tổ chức quốc tế, Đoàn đại sứ lưu động Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa
Kỳ,… đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ đã chia sẻ, khẳng định Dự thảo Luật Tín
ngưỡng, tôn giáo đã được thực hiện theo quy trình làm luật chặt chẽ, công khai,
minh bạch, với tinh thần cầu thị trước các ý kiến đóng góp.
Vì
thế, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chứa đựng nhiều nội dung mới, cụ thể: 1. Mở rộng
phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: từ “công dân” thành “mọi
người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con
người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Tại Điều 6 nêu rõ: “Mọi người có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (khoản 1).
Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm
giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt
buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo (khoản
5)”; 2. Bổ sung một chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phản ánh rõ
hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính
sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của mọi người; 3. Đăng ký sinh hoạt tôn giáo: nếu trước đây đăng ký sinh
hoạt tôn giáo được xem là một mốc khởi điểm để bắt đầu hình thành một tổ chức
tôn giáo thì nay Luật chỉ xem sinh hoạt tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo
của người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức tôn giáo được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền công nhận và đăng ký sinh hoạt tôn giáo không xem là một điều kiện để
hình thành tổ chức tôn giáo như quy định hiện hành; 4. Một số nội dung thuộc
thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như: công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập,
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; thành lập cơ sở đào
tạo tôn giáo đã được thay đổi theo hướng giao cơ quan quản lý Nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và trả lời tổ chức
tôn giáo; 5. Bỏ một số từ ngữ đã được sử dụng tại Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn
giáo như: tổ chức tôn giáo cơ sở, hội đoàn, dòng tu. Bổ sung khái niệm tổ chức
tôn giáo trực thuộc, coi tổ chức tôn giáo cơ sở, hội đoàn, dòng tu là tổ chức
tôn giáo trực thuộc; 6. Về trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn
giáo: bổ sung, làm mới các quy định liên quan trường đào tạo tôn giáo, bao gồm
từ điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan quản
lý trường đào tạo; 7. Bổ sung nội dung phong phẩm, bổ nhiệm người có quốc tịch
nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam. Trong xu thế hội nhập và
giao lưu quốc tế hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài đến Việt Nam làm
việc, sinh sống, trong đó có nhiều người là tín đồ các tổ chức tôn giáo nước
ngoài. Vì thế, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: sinh
hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa
điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu
hành thực hiện các lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, vào
học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn
giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ
nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam; 8. Đăng ký
hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo hằng năm được thay đổi theo hướng chỉ
đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những năm tiếp
theo nếu có phát sinh các hoạt động ngoài chương trình đăng ký mới đăng ký,
thông báo bổ sung; 9. Hoạt động của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực
thuộc trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo, bảo trợ xã hội được mở rộng
theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật liên quan; khuyến khích và tạo
điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia sâu vào các hoạt động vì mục đích từ
thiện, nhân đạo; 10. Bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư
trú hợp pháp tại Việt Nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo; được tổ chức tôn giáo
Việt Nam phong chức, phong phẩm,… được tập trung sinh hoạt tôn giáo riêng tại
cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam; 11. Một số nội dung
hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như: thông báo
lễ hội định kỳ; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo về tuyển sinh,
thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành, thông báo hội nghị thường
niên, thông báo quyên góp; 12. Phân định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước
đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo với Điều 61: “Trách nhiệm quản lý nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo. 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước. 2. Cơ quan quản lý nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực
hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban
nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý
nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo”.
Sau
khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua, các thế lực xấu, thù
địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để đưa lên internet luận
điệu vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, xuyên tạc là Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo chưa tương thích với các quy định quốc tế về quyền con
người (!). Tuy nhiên, dù vu cáo xuyên tạc thế nào, họ vẫn không thể phủ nhận
thực tế thể hiện qua quan điểm thiết thực, hành động cụ thể của Nhà nước Việt
Nam trong khi lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của chức sắc các tổ chức tôn giáo,
vừa tạo điều kiện để mọi người được thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh, tôn
giáo, vừa khuyến khích phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức, bác ái của tín
ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội. Ngày 19-12-2016, tại Hội nghị của Thủ
tướng Chính phủ với các tổ chức tôn giáo, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cuộc
gặp với 55 chức sắc cao cấp của các tôn giáo và đại diện các bộ, ngành. Đại
diện các tôn giáo đã có nhiều ý kiến đóng góp thiết thực cởi mở, thẳng thắn
trên tinh thần xây dựng với mong muốn Chính phủ ngày càng thực hiện tốt hơn,
hiệu quả hơn Hiến pháp, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Hội nghị, Thủ
tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo... kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm
pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi,
kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối an ninh trật tự, lợi
dụng chống phá Nhà nước, gây cản trở đối với Việt Nam trong tiến trình phát
triển và hội nhập quốc tế; phát huy các nguồn lực tôn giáo, tạo lan tỏa trong
xã hội, xây dựng nếp sống văn minh “tốt đời, đẹp đạo” đồng hành với dân tộc,
tạo sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và phát triển đất nước./.
- Mạnh
Hà -
Bài viết rất hay
Trả lờiXóa