"LỢI ÍCH NHÓM" VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THÂN
HỮU
Lợi ích chính đáng (của một
người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc,
góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho
lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt
động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích.
Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng
của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý
xã hội không thể thành công, trước sau cũng nhất định thất bại.
Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì
mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung,
cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung.
“Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi
ích”. Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích,
cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với
những người có quyền lực trong nhà nước và trong Đảng cầm quyền. Có tiền chuyển
hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ
có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có
quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo
thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng
của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm
truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho
“nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng
nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với
tham vọng quyền lực cùng với tham vọng tiền bạc.
Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai
hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí đã phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI), và
Tổng Bí thư đã có những cảnh báo về tác hại cũng như những hậu quả của
"lợi ích nhóm" gây ra cho xã hội, cho đất nước nếu không được ngăn
chặn kịp thời, sau đó các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng đã đề cập
đến và đã có những chỉ đạo, những biện pháp ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích
nhóm” nhưng các giải pháp đó chưa thật sự đủ mạnh. Trong giới khoa học của Việt
Nam
đã có một số nghiên cứu, nhưng chưa nhiều, và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa
gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều
tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc
gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về
“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan
trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.
Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi
ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là
trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công,
như một số dự án BOT; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng- tín
dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản
lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong
công tác cán bộ, quản lý biên chế, đưa người thân, người quen không đủ phẩm
chất, năng lực vào bộ máy nhà nước; trong quản lý các loại cấp giấy phép; kể cả
trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và điều hành có lợi
cho ngành, địa phương mình. Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng
có tổ chức, các vụ việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ
thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở nước ta. Tình hình này đã lan rộng, khá phổ
biến ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan đơn vị tạo ra những dư luận xấu
trong xã hội.
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước
nhất là nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư,
bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình
thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”,
thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để
giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp. Hầu hết các nước bị “bẫy” thu nhập trung bình kéo dài
nhiều thập kỷ, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng nhùng mãi,
không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển, là do “lợi
ích nhóm”- nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi
ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia,
mà nhằm hướng vào phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án
và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.
Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đến nay năng suất lao động xã hội vẫn còn thấp, so với các nước trên thế giới
và khu vực Đông Nam Á, hiệu quả đầu tư hạn chế, nợ công tăng cao, khi mà hiệu
quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) kém hiệu quả; thu nhập thấp, sản phẩm công
nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành
công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều
khó khăn, nền kinh tế đất nước đang có nguy cơ rơi vào “bẫy” thu nhập trung
bình thấp. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy” thu nhập trung bình và nhìn
lại tình hình nền kinh tế của nước ta thật đáng lo ngại.
Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định
sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ
nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang CNTB thân
hữu, đó là con đường không có tiền đồ và nguy hiểm, không có tự do và dân chủ
(vì bị nhóm lợi ích độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để
lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một
xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy
đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị. Thực chất “nhóm lợi ích”
là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ
quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch
khỏi mục tiêu XHCN (chân chính). “Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất
sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ TBCN thì
nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất.
Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động
phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo
lực và giết người.
Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm
lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về CNTB thân hữu. Suốt mấy trăm năm nay, qua
quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật
khách quan về kinh tế và xã hội, CNTB buộc phải liên tục điều chỉnh, để điều
hòa mâu thuẫn trong xã hội. Ngày nay CNTB hiện đại đã đạt những thành tựu về
kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ... và một số nước phát triển cao, tính
chất xã hội hóa cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã
hội tương lai (XHCN). Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực
tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng
không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là CNTB thân
hữu, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia. Nước nào rơi
vào “CNTB thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. CNTB thân hữu thực chất là sự
bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây
ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với CNTB hiện đại (CNTB hiện
đại cũng có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh
nghiệm của họ) và tất nhiên là càng xa lạ với CNXH văn minh.
CNTB thân hữu còn có các cách gọi
khác nhau, là “CNTB lợi ích”, “CNTB bè phái”, “CNTB bè cánh”, “CNTB lũng đoạn”…
CNTB thân hữu không phải là một giai đoạn của CNTB, mà là một hiện tượng, một
khuyết tật, một sự tha hóa của CNTB. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó
các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực
trong bộ máy nhà nước để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và cơ quan, đơn
vị mình. Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức”
để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Đặc trưng của “CNTB
thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và
nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người
có quyền lực cũng tham gia “kinh doanh”, làm quan chức để làm giàu, họ cùng
nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài
chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công
cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc
quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị. Nói họ thực hiện bóc lột “mềm”
là vì không có hình thức tổ chức sản xuất- kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc
lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại
hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án,
các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho
toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách
quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng… Họ thu lợi thông qua
các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình,
của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) CNTB “man rợ”, CNTB “dã man”, chứ
không phải CNTB văn minh.
Rất đáng lưu ý là, “CNTB thân hữu” không chỉ có trong
xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước
mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó
“lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích”
đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo
bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được
tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị
quốc gia yếu kém). Thực tiễn thế giới cho thấy, CNTB thân hữu kìm hãm sự phát
triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy” thu nhập trung bình hàng thế
kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo
mó, biến dạng các chủ trương đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế
và của xã hội, để hậu quả lâu dài. CNTB thân hữu xuất phát từ các nguyên nhân,
nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng Maphia, tham nhũng có tổ chức, sự
suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền
lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để dân làm chủ, để nhân dân có
quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp
còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và
dung túng cho các sai phạm. Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn
chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai
trò của nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo, CNTB
thân hữu xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có
muốn hay không.
Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng.
Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến,
vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang CNTB phát triển
văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý
kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với CNXH. Khả năng
lớn nhất, hiện hữu, và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, là chệch hướng sang
CNTB thân hữu, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng
thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị xã hội.
Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do
“nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội, do hệ giá trị
bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong
khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền
lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu - nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra
bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì
hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn
thật - giả, đúng - sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng
không đi vào được cuộc sống…; làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng cầm
quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn
định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ
bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc
lập, thậm chí là mất nước.
Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách
sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn chạy chức chạy quyền, “buôn quan”, “buôn
vua”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử
dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia
tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của Đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến Đảng cầm quyền mất vai trò lãnh
đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn về bản chất,
không còn là Đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không
còn là nhà nước của dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân
dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ
đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây, trong lịch sử nhiều lần các triều
đại phong kiến Việt Nam phải sụp đổ, kể cả có lúc phải chia cắt đất nước là do
“nhóm lợi ích” gây nên. Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp
quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, tuy
nhiên, qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia
và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng,
tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì bệnh nặng hơn, ở lĩnh
vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho
rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch. “Lợi ích nhóm” cũng chính là một
kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và nhà
nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực,
nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta
đang có biểu hiện của “CNTB thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên.
Thậm chí có ý kiến cho rằng trong giai đoạn hiện nay chúng ta không có biện
pháp ngăn chặn quyết liệt, kịp thời sẽ bị lợi ích nhóm chi phối, làm ánh hưởng
đế bản chất chế độ xã hội tốt đẹp mà chúng ta đang xây dựng. Ở các nước, việc
quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh
nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta. Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa
quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước
nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh
nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam
còn phức tạp hơn các nước, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là
nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước
và sự tồn vong của chế độ theo định hướng XHCN (lành mạnh). Nguy cơ này bao
trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng
các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại.
Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường;
là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”. Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn
chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng
đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ
chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo chiều hướng xấu, chắc chắn không
còn là con đường XHCN chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển CNTB thân hữu,
mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu và hy sinh
xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng
không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất,
dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội
sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng. Lúc này, hơn
lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo
vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta,
không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và CNTB thân hữu thao túng, làm hư hỏng, biến
chất, dẫn đến đổ vỡ.
Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn,
phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng
đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó. Ngoài việc cần
nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong
Đảng và trên công luận; Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh
chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp
bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự
gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện
pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế
kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, bằng quyền lực của nhân dân và
bằng công luận); cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và qui
định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho
báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công
tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và
thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế
giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị
trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi
ích nhóm”./.
Bài viết rất hấp dẫn
Trả lờiXóa