Khi giai cấp vô sản ra đời, xã hội đặt
dưới sự thống trị của giai cấp tư sản. Phong trào vô sản đấu tranh chống giai
cấp tư sản và các thế lực bóc lột cũng bắt đầu ngay từ đó, nó liên tiếp diễn ra
ở khắp mọi nơi, mọi lúc, cho tới nay. Trong tất cả các hình thức và các giai
đoạn đấu tranh của giai cấp vô sản khi chính quyền nhà nước còn nằm trong tay
giai cấp tư sản thì đều là các cuộc đấu tranh chính trị với ý nghĩa như là một
sự tập dượt, rèn luyện để trưởng thành; những người cộng sản đều phải nắm lấy
và hướng dẫn nó. Khi nói về mối quan hệ giữa những người cộng sản với toàn thể
những người vô sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc
đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ
phong trào”(1). Đó là chân lý hiển nhiên, là lẽ bình thường mà những người cộng
sản chân chính cách mạng phải hiểu và vận dụng. Nhưng trên thực tế, ngay từ
thời C.Mác đã có những “lý luận gia” và không ít những nhà hoạt động chính trị
thờ ơ với các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản. Họ coi các hình thức đấu
tranh của giai cấp vô sản chống chính quyền của giai cấp tư sản và giới chủ tư
bản bóc lột giai cấp công nhân như là một sự vụn vặt, thấp kém, trái với nguyên
tắc và mục đích tối cao, cuối cùng của đảng cộng sản. Họ đưa ra những lý thuyết
viển vông, mơ hồ để ru ngủ phong trào công nhân trước sự bất công, tàn bạo của
giới chủ được bênh vực và bảo vệ bởi nhà nước tư sản. Chẳng hạn, họ cho rằng
mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước,
vì vậy “Giai cấp công nhân không cần phải tự tổ chức thành chính đảng; giai
công nhân không được viện bất cứ lý do gì để làm chính trị, vì tiến hành đấu
tranh chống nhà nước tức là thừa nhận nhà nước và như vậy là trái với những
nguyên tắc vĩnh cửu! Công nhân không nên tiến hành bãi công, vì phí sức mình để
giành cho được tăng lương hoặc để ngăn chặn hạ lương có nghĩa là thừa nhận chế
độ làm thuê, như thế là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu của việc giải phóng
giai cấp công nhân!
... Công nhân không nên thành lập các
công đoàn, vì như vậy công nhân sẽ làm cho sự phân công lao động xã hội, như
hiện có trong xã hội tư sản, tồn tại mãi; chính sự phân công ấy làm cho công
nhân chia rẽ và là cơ sở thực sự của tình trạng nô lệ hiện nay của họ... Tóm
lại, công nhân nên khoanh tay đứng nhìn và không nên lãng phí thời gian của
mình vào việc tham gia phong trào chính trị kinh tế. Loại hoạt động đó chỉ có
thể mang lại cho họ những hậu quả trực tiếp... Trong khi chờ đợi sự thanh toán
xã hội tuyệt đẹp ấy, giai cấp công nhân phải tỏ ra hiền từ nhã nhặn như đàn cừu
ăn no, không được quấy rầy chính phủ, phải sợ sệt luật pháp, phải chịu nhẫn
nhục... dù sao họ cũng không được chống đối chế độ tư bản, ngoài việc cao đàm
về cái xã hội tương lai không còn chế độ đáng ghét ấy nữa”(2). C.Mác gọi đó là
“chủ nghĩa thờ ơ chính trị”.
“Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” mà C.Mác phê
phán là tư tưởng phản động và hèn hạ của nhà kinh tế học tư sản Pru-đông P.J
(Paris xuất bản năm 1868). Nó đã bị C.Mác phê phán và bị vứt vào sọt rác của
lịch sử. Tuy vậy nó cũng vẫn còn ảnh hưởng với những mức độ khác nhau ở những
nước có nền kinh tế thị trường. Ngay ở nước ta hiện nay cũng không phải không
có nhiều nơi coi thường việc xây dựng tổ chức đảng và tổ chức công đoàn trong
các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Không
phải là không có sự ươn hèn và thoái hoá, biến chất của một số người được cử
đại diện phía Việt Nam
tham gia trong lãnh đạo các liên doanh… Phải nhận rõ rằng những người công nhân
chúng ta trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay, xét về mặt chính trị
xã hội thì họ là một bộ phận của giai cấp đang lãnh đạo xã hội, họ có tổ chức
đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Như vậy, họ đang là
chủ nhân có tổ chức của xã hội, có Đảng lãnh đạo, có Nhà nước pháp quyền XHCN
đang quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong đó có khu vực kinh tế ngoài
nhà nước). Nhưng xét về mặt sở hữu thì bản thân những người lao động Việt Nam hiện nay
trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước vẫn là người vô sản (với ý nghĩa là người
không có tư liệu sản xuất) đang làm thuê cho giới chủ. Mặc dù vậy, như trên đã
nói, họ khác xa cái giai cấp vô sản “trần như nhộng” của thế kỷ 19, bối cảnh ra
đời của chủ nghĩa Mác. Đây là một bộ phận của giai cấp vô sản đặc thù trong một
xã hội có nền kinh tế thị trường chưa hề có tiền lệ trong lịch sử. Vậy thì Đảng
và Nhà nước cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị cần có sự đầu tư trí
tuệ, tâm lực và trách nhiệm nghiên cứu và hoạch định chính sách để tổ chức, xây
dựng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Nếu khu vực kinh tế tư
nhân ngày càng có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân thì bộ phận giai
cấp vô sản ở đây cũng ngày càng quan trọng. Không thể để tình trạng “Chủ nghĩa
thờ ơ chính trị” xuất hiện một cách tự phát như vừa qua ở một số nơi. Ví dụ có
doanh nghiệp, giới chủ mạt sát, thậm chí sỉ nhục người lao động, có nơi quỵt
lương công nhân, tự ý tăng giờ làm nhằm bóc lột sức lao động; hoặc không ít nơi
giới chủ không tôn trọng luật pháp Việt Nam về những điều kiện bảo hộ lao động
để xảy ra chết người…, về giữ vệ sinh môi trường lao động; về đảm bảo những
phúc lợi xã hội như y tế, sinh hoạt văn hoá, nơi ăn ở (không ít nơi công nhân
bị ngộ độc hàng loạt khi ăn cơm ở bếp tập thể), phương tiện đi làm khó khăn,
trường học cho con em không có… Đáng chú ý là hầu hết các doanh nghiệp, nhất là
các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có hành động làm ô nhiễm môi trường ở các
mức độ khác nhau, có nơi rất nghiêm trọng, nhưng các nhà quản lý thì có nơi còn
bao che, có nơi chỉ xử phạt chiếu lệ, gượng nhẹ; đặc biệt, các chế tài hoặc
thiếu, hoặc chưa đủ mạnh và việc khắc phục rất trì trệ. Như thế thì có phải là
sự lặp lại “chủ nghĩa thờ ơ chính trị” của P-rao-hon một cách có ý thức hay vô
thức không?
Theo thiển nghĩ của chúng tôi, trong
công tác xây dựng đảng về tư tưởng và lý luận thì cần đấu tranh, vạch trần, lên
án những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”; trong hoạch định chủ
trương, chính sách cần đặt vấn đề chống một cách nghiêm túc, cần thể hiện một
cách quyết liệt trong hoạt động thực tiễn; trong tổ chức thì cần nghiên cứu một
cách khoa học, sát với thực tiễn để xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị,
chính trị-xã hội ở các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài
nhà nước. Không thể bằng vào kinh nghiệm tổ chức, xây dựng và phương thức hoạt
động ở thời kỳ đã qua - thời kỳ cơ chế quản lý tập trung bao cấp - để ứng dụng
trong các doanh nghiệp hiện nay. Đảng cần có chỉ đạo cụ thể trong xây dựng và
hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và lãnh
đạo các cơ quan nhà nước xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật để điều
chỉnh các hoạt động của giới chủ và cả với người lao động trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần có sự cân nhắc thận trọng
khi cử cán bộ vào làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân, nhất là tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; cần giáo dục và quản lý chặt chẽ tư tưởng
và đạo đức của họ để họ thực sự là người của giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích
chính đáng của người lao động. Phải trừng trị thích đáng những ai chỉ vì lợi
ích cá nhân mà hy sinh lợi ích của quốc gia và lợi ích hợp pháp của người lao
động. Hơn bất cứ ở đâu, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang đòi hỏi một đội
ngũ cán bộ, đảng viên vừa vững về chính trị, vừa có tâm trong sáng, vừa có trí
tuệ và bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Về phía những người lao động, cần phát
huy ý thức và bản lĩnh của người làm chủ đất nước, nâng cao tay nghề, rèn luyện
tác phong và kỹ thuật lao động công nghiệp, đặc biệt là nắm vững pháp luật để
có quan hệ đúng mực với giới chủ, làm cho giới chủ phải tôn trọng người lao
động. Đề cao lòng tự tôn dân tộc, biết tự trọng và tuân theo kỷ luật, luật pháp
là cách tốt nhất để giới chủ phải khâm phục và tôn trọng.
Đảng và Nhà nước đã và sẽ phải tiếp tục
hoàn thiện chế độ chính sách và hệ thống các quy phạm pháp luật để đảm bảo cho
những người vô sản trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước được làm chủ - làm chủ
bằng Nhà nước và pháp luật,
---------
(1) Tuyển tập Mác - Ăngghen, NXBST, H.1980,
tập 1, tr.557.
(2) Sđd, tập 4, tr.345-347.
Bài viết rất thực tế
Trả lờiXóa