Ngày nay, những mưu
toan “đánh đổ” chủ nghĩa Mác - Lênin thường dựa chủ yếu vào sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, coi đây là lý lẽ có sức nặng nhất để
thực hiện mục tiêu của chúng. Để bác bỏ những mưu toan ấy, vì thế phải bắt đầu
từ sự kiện đó và để hiểu đúng nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ. Từ đó, khẳng định
tính khoa học và cách mạng, sự vĩnh hằng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải qua một thời kỳ phát triển
rực rỡ, có những thành tựu to lớn và đã phát huy tác dụng mạnh mẽ đến tiến
trình phát triển lịch sử của loài người. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to
lớn ấy, chủ nghĩa xã hội hiện thực, do diễn ra trong những hoàn cảnh khắc nghiệt
có sự chống phá điên cuồng của đủ loại kẻ thù cộng với sự thiếu kinh nghiệm, những
ấu trĩ và nôn nóng chủ quan, nên tình trạng trì trệ kéo dài dẫn tới khủng hoảng
trầm trọng vào những năm cuối thập kỷ 80 từ tháng 4 năm 1989 trở đi, sự đổ vỡ
diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu. Chỉ trong vòng hai năm, đến tháng 9 năm
1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và sáu nước Đông Âu đã sụp đổ hoàn
toàn. Sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ, Anbani, Nam Tư. Đó là một sự sụp đổ có
tính chất dây chuyền trên một phạm vi địa lý rất rộng. Người ta nói đến “trận động
đất chính trị”, “trận cuồng phong chính trị”. Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội hí hửng
reo lên: đây là sự sụp đổ “tất yếu” không tránh khỏi của một chế độ “lỗi thời”
và đó là một cuộc “cách mạng”. Kẻ thù của chủ nghĩa Mác - Lênin quả quyết rằng
đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết sai lầm, đầy ảo tưởng
rằng chủ nghĩa xã hội là một bước đi sai lầm của lịch sử tất nhiên phải sụp đổ.
Nghiên cứu sâu sắc tình hình, đặc biệt là diễn biến của công
cuộc cải tổ ở Liên Xô, cho chúng ta thấy sự sụp đổ đó nhất quyết không phải xuất
phát từ sự lỗi thời, từ bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà bởi những nhược
điểm và khuyết điểm to lớn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chậm được
phát hiện và khắc phục, gây ra tình trạng trì trệ kinh tế - xã hội và khủng hoảng
chính trị - xã hội, nguyên nhân của tình trạng đó có cả những nguyên nhân sâu
xa và cả những nguyên nhân trực tiếp.
Nguyên nhân sâu xa dẫn
đến sự sụp đổ.
Những khuyết điểm, sai lầm kéo dài trong lãnh đạo xây dựng chủ
nghĩa xã hội liên quan đến mô hình của chủ nghĩa xã hội là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến khủng hoảng và nguy cơ sụp đổ. Vấn đề xác định mô hình của chủ nghĩa xã hội
là một trong những vấn đề khó khăn và phức tạp nhất của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Điều này các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng nói
rõ. Từ trước Cách mạng Tháng Mười, Lênin viết: “Chúng ta không kỳ vọng rằng Mác
hay những người theo chủ nghĩa Mác đều hiểu biết mọi mặt cụ thể của con đường
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Như thế sẽ là phi lý. Chúng ta chỉ biết phương hướng
của con đường đó và những lực lượng giai cấp nào dẫn đến con đường đó; còn như
về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao, thì kinh nghiệm của hàng triệu
con người sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động”[1].
Xã hội mới ra đời thường không tránh khỏi một thời kỳ tìm tòi và thử nghiệm, một
quá trình phạm nhiều sai lầm và sửa chữa sai lầm. Lênin chỉ rõ: “…nếu người ta
xét thực chất của vấn đề, liệu có bao giờ người ta thấy trong lịch sử lại có một
phương thức sản xuất mới nào đứng vững ngay được, mà không trải qua nhiều thất
bại, nhiều sai lầm và tái phạm không?”[2].
Mô hình đầu tiên của chủ nghĩa xã hội ra đời ở Liên Xô trong bối cảnh đặc biệt.
Từ sau Cách mạng Tháng Mười đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô
là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất. Điều kiện xây dựng chế độ mới cực kỳ khó
khăn phức tạp: nền kinh tế lạc hậu bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh thế giới
thứ nhất, rồi nội chiến, rồi chiến tranh cạn thiệp của 14 nước đế quốc và bị
bao vây cấm vận về kinh tế, v.v.. Hơn nữa chưa được bao lâu từ cuối những năm
20 đầu những năm 30, triệu chứng cuộc chiến tranh thế giới mới ngày càng lộ rõ.
Trong bối cảnh ấy phải làm sao nhanh chóng biến nước Nga lạc hậu thành cường quốc
công nghiệp, vừa xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, vừa xóa bỏ nghèo
nàn lạc hậu, vừa để đối phó với nguy cơ chiến tranh. Trong điều kiện như vậy,
Nhà nước Xô viết không thể không áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao.
Liên Xô đã thành công rực rỡ trong sự nghiệp công nghiệp hóa với thời gian chưa
đầy 20 năm.
Không thể phủ nhận vai trò to lớn và có ý nghĩa lịch sử của
mô hình đầu tiên này của chủ nghĩa xã hội. Nó rất cần thiết không thể nào khác
nhằm cung cấp lương thực cho quân đội, cho tiền tuyến, cho công nhân và cho
nhân dân thành thị trong điều kiện lương thực cực kỳ khan hiếm. Sai lầm ở chỗ về
sau tưởng có thể “nhất cử lưỡng tiện” - bằng chính sách đó chuyển trực tiếp lên
quan hệ cộng sản chủ nghĩa điều mà Lênin đã tự phê bình là sai lầm. Khi nền
kinh tế bước sang thời kỳ phát triển theo chiều sâu thì mô hình đó bộc lộ đầy đủ
những khuyết tật của nó, đã tuyệt đối hóa cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao, từ
bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế
thị trường, thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo
của các đơn vị kinh tế và cá nhân người lao động. Chế độ quản lý siêu tập
trung, bao cấp và cơ chế phân phối bình quân làm suy yếu một trong những động lực
quan trọng của phát triển kinh tế là lợi ích trực tiếp của người lao động. Hậu
quả của sự kéo dài cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp là nền kinh tế Liên Xô
rơi vào tình trạng trì trệ, tốc độ phát triển chậm dần, tính hiệu quả ngày càng
thua kém các nước tư bản, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, nền kinh tế rơi
vào khủng hoảng trầm trọng.
Sai lầm, khuyết tật gắn với
mô hình cũ không chỉ trên lĩnh vực kinh tế. Nó còn thể hiện ở việc xây dựng hệ
thống chính trị, ở phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước.
Hệ thống chính trị chủ yếu là bộ máy đảng và nhà nước ngày càng cồng kềnh, tốn
kém và ngày càng kém hiệu lực, nhất là trong quản lý kinh tế. Một trong những
khuyết điểm lớn của mô hình cũ là không phát huy được tính ưu việt của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân đã bị vi phạm nghiêm trọng. Chủ
nghĩa quan liêu hoàn toàn trái ngược với bản chất của chủ nghĩa xã hội, nhưng với
cơ chế cũ thì không có cách gì ngăn chặn sự phát triển của nó. Do chậm đổi mới
cơ chế kinh tế, hệ thống quản lý, nói chung là chậm đổi mới mô hình của chủ nghĩa
xã hội, nên hậu quả là Liên Xô đang trên đà rút ngắn dần về trình độ phát triển
kinh tế so với các nước tư bản phát triển thì từ giữa những năm 70 tình hình diễn
ra theo chiều ngược lại. Sự thua kém rõ rệt của Liên Xô thể hiện trong lĩnh vực
công nghệ và năng suất lao động. Mà đây là hai yếu tố như Lênin nói, xét đến
cùng là thắng lợi hoàn toàn của chế độ mới.
Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài đã nói ở trên
không phải là những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa,
mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội. Cuộc khủng hoảng từ những năm 80
là rất trầm trọng. Song Liên Xô có thể khắc phục được những khủng hoảng trầm trọng
đó bằng một cuộc cải cách sâu sắc, toàn diện, được chỉ đạo bởi một đường lối
đúng đắn, có nguyên tắc, phù hợp với tình hình thực tế, giữ vững con đường phát
triển xã hội chủ nghĩa. Nhưng, trái với những mong đợi của chúng ta, cuộc cải
cách như thế đã không diễn ra, thay vào đó là cuộc “cải tổ” mà hậu quả của nó
thì mọi người đã biết.
Những nguyên nhân chủ yếu
và trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ.
Giữa những năm 80, Liên Xô ở vào thời điểm bước ngoặt, hết sức
phức tạp. Ở thời điểm như thế, sai lầm chính trị nghiêm trọng ở cấp lãnh đạo
cao nhất có thể là sai lầm cuối cùng quyết định vận mệnh của chế độ xã hội chủ
nghĩa. Và sự tình đã diễn ra đúng như thế. Cuộc cải tổ bắt đầu từ năm 1986 đã kết
thúc trong sự đổ vỡ hoàn toàn năm 1991. Vì sao vậy? Vì đường lối cải tổ thực chất
là đường lối trượt dài từ cơ hội hữu khuynh đến xét lại, đến từ bỏ hoàn toàn chủ
nghĩa Mác - Lênin. Những tuyên bố lúc ban đầu; “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn,
nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, “chúng ta sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn
chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội
chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc
sống đặt ra”, v.v.. rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản
bội. Thực tế quá trình cải tổ đi ngược lại những lời hứa hẹn đó.
Những người lãnh đạo cải tổ
lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những
mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ đã từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong thực tế, họ định hướng theo phương
Tây tư bản chủ nghĩa. Chủ trương đưa ra lúc đầu là “tăng tốc” về kinh tế để chấm
dứt sự trì trệ. Đẩy mạnh nhịp độ phát triển không có gì sai mà là tất yếu, cấp
bách. Vấn đề là tăng tốc bằng cách nào thì không có câu trả lời đúng đắn. Đổi mới
công nghệ bằng cách nào cũng bế tắc. Người ta liền quy cho cơ chế quản lý kinh
tế nhưng rồi cũng trầy trật; người ta bèn chuyển nhanh sang cải tổ chính trị
coi đây là “cái chìa khóa” cho mọi vấn đề. Thế là Hội nghị Đảng toàn quốc lần
thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô chủ trương chuyển trọng tâm sang cải tổ hệ thống
chính trị trên cơ sở cái gọi là “tư duy chính trị mới”. Thực chất đó là sự thỏa
hiệp vô nguyên tắc, là sự đầu hàng, là từ bỏ lập trường giai cấp, là sự phản bội
chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bội sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải cách chính
trị đánh thẳng vào hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, trước hết là vào tổ
chức đảng. Nhóm lãnh đạo cải tổ tìm cách loại bỏ khỏi Ủy ban Trung ương Đảng
hàng loạt những người không tán thành đường lối sai lầm của cải tổ, kiên trì đường
lối chủ nghĩa Mác - Lênin. Những người ngấm ngầm hoặc công khai thù địch với chủ
nghĩa Mác - Lênin chiếm các vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Chủ
trương cải cách hệ thống chính trị thực chất là xóa bỏ hoàn toàn cơ chế đảng
lãnh đạo, thực hiện đa nguyên chính trị, nhưng trong cái “đa nguyên” này thì
quyền lực rơi dần vào tay các thế lực chống chủ nghĩa xã hội. Bản thân Đảng Cộng
sản đã bị ban lãnh đạo làm cho rệu rã trong quá trình đi từ “đa nguyên ý kiến”
đến đa cương lĩnh, nghĩa là chia năm xẻ bảy, trung thành cũng không biết làm
gì, phản ứng thế nào trước sự kiện diễn ra. Liên Xô đã sụp đổ trên thực tế từ
sau sự biến tháng 8-1991 và đến tháng 12 năm đó thì cái tên “Liên bang Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Xôviết” chính thức bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới.
Một nguyên nhân trực tiếp
nữa dẫn đến sự sụp đổ đó là chủ nghĩa đế quốc thường xuyên tiến hành một cuộc
chiến tranh khi thì bằng súng đạn, khi bằng “diễn biến hòa bình” chống chủ nghĩa
xã hội, chống Liên Xô. Chính chúng đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh từ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai. Chúng xem cuộc khủng hoảng ở Liên Xô là thời cơ 70 năm
có một để đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Các chiến lược gia phương Tây sớm
nhận ra “cái gót Asin” của cải tổ thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”.
Các thế lực chống chủ nghĩa xã hội ở bên ngoài theo sát quá trình cải tổ, tìm mọi
cách để lái nó theo ý đồ của họ. Họ làm việc đó thông qua những người lãnh đạo
chủ chốt của cải tổ mà họ đã nắm chắc trong tay, trong số này có một số phần tử
được dùng như “con ngựa thành Tơroa” để phá từ bên trong. Các thế lực từ bên
ngoài tác động vào cải tổ cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Hứa hẹn viện trợ
về kinh tế được dùng làm một loại vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ
đạo mà phương Tây mong muốn. Đây thực sự là một kịch bản “diễn biến hòa bình”
theo đúng nghĩa của từ này để chiến thắng không cần chiến tranh. Trong cuốn
sách mang tên gọi này Níchxơn cho rằng: mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định
nhất. Ông ta viết: toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ
kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng. Theo
Busơ: chiến lược của Mỹ trước sau như một là: đưa chiến tranh vào bên trong bức
màn sắt.
Sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên
trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân trực tiếp
làm cho Liên Xô sụp đổ. Hai nguyên nhân này quyện chặt vào nhau, tác động cùng
chiều, tạo nên một lực cộng hưởng rất mạnh và nhanh như một cơn lốc chính trị
trực tiếp phá sập ngôi nhà xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên xét cho cùng chính bọn
cơ hội, xét lại và phản bội, sự mất cảnh giác cách mạng trong hàng ngũ những
người cộng sản đã tạo cơ hội bằng vàng cho chủ nghĩa đế quốc “chiến thắng mà
không cần chiến tranh”. Chúng ta cho rằng trong tình hình chủ nghĩa xã hội trì
trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ là tất yếu. Vì chỉ
có một cuộc cải cách, đổi mới sâu sắc, toàn diện mới đưa chủ nghĩa xã hội thoát
khỏi khủng hoảng để bước vào thời kỳ phát triển mới. Cải tổ là tất yếu, nhưng sụp
đổ không phải là tất yếu. Vấn đề ở chỗ: cải tổ thế nào, nhằm mục đích gì, theo
đường lối nào. Nếu cải tổ theo một đường lối đúng đắn, thực sự mácxít -
lêninnít về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không phạm những sai lầm cực kỳ
nghiêm trọng thì làm sao Liên bang Xô viết có thể sụp đổ được? Vì vậy việc đồng
nhất sự sụp đổ ấy với “sự cáo chung” của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác -
Lênin là hoàn toàn vô căn cứ và phản khoa học.
Hiện nay, một mảng quan trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực
đã bị sụp đổ, nhưng tuyệt nhiên không nói lên rằng chủ nghĩa Mác - Lênin sai lầm
và phá sản mà điều đó là do những nguyên nhân đã phân tích ở trên. Những nước
xã hội chủ nghĩa còn lại vẫn tiếp tục con đường đi của mình theo định hướng của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tiếp tục sống trong cuộc đấu
tranh của những người cộng sản và nhân dân ngay tại những nước mà chế độ xã hội
chủ nghĩa vừa sụp đổ; vẫn tiếp tục sống trong phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Ngay
nhiều học giả tư sản sáng suốt cũng thừa nhận rằng sẽ là sai lầm nếu vội vã
tuyên bố học thuyết Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội đã chết còn chủ nghĩa tư bản
thì vĩnh hằng, rằng Mác vẫn sống ngay trong các trường đại học ở phương Tây, rằng
sẽ không có tương lai nếu không có Mác, rằng Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ
XXI, v.v… và v.v…
Thực tiễn cách mạng Việt Nam là một trong những minh chứng đầy
sức thuyết phục về sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin. Là vũ khí vô địch của
chúng ta trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn
đang là vũ khí tư tưởng không có gì thay thế được của nhân dân ta trong sự nghiệp
xây dựng chế độ xã hội mới. Tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin được chứng
minh không chỉ qua những thắng lợi, những thành tựu cách mạng. Nó còn được chứng
minh bằng cả những tấm gương phản diện qua cả những thất bại tạm thời, kể cả những
thất bại to lớn nhất như sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước
Đông Âu. Sự sụp đổ ấy chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng sự ra đời của một chế độ
mới quả không bao giờ là một quá trình êm thấm, suôn sẻ, phẳng phiu. Nó ra đời
trong sự liên tục tìm tòi và thể nghiệm bản thân, trong cuộc đấu tranh quyết liệt,
phức tạp và dai dẳng với những thế lực thù địch luôn luôn tìm cách xóa bỏ nó.
Trong quá trình tìm tòi, thể nghiệm và đấu tranh ấy, có khi do sai lầm bản
thân, có khi do tương quan lực lượng, có khi do bối cảnh chung không thuận lợi,
có khi do tác động kết hợp của cả mấy nhân tố ấy mà chế độ mới tạm thời phải
lùi bước hoặc thất bại.
Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông
Âu là một tổn thất to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Nhưng nếu từ
trong sự sụp đổ này chúng ta biết rút ra được bài học phản diện đúng đắn và bổ
ích khiến chúng ta khôn ngoan hơn lên, bản lĩnh chính trị già dặn hơn lên, thì
thất bại lại trở thành “mẹ đẻ của thành công”, bài học phản diện trở thành bài
học tích cực. Có thể đây chưa phải là sự trả giá cuối cùng nhưng dứt khoát là rốt
cuộc chủ nghĩa xã hội bằng cách này, cách khác nhất định sẽ phục hồi sức sống
mãnh liệt và tiếp tục tiến lên. Bởi lẽ đó là quy luật tiến hóa của lịch sử
không có gì ngăn nổi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét