Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN; ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM LÀ SỰ NGU DỐT VỀ CHÍNH TRỊ

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó có nội dung tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh…, thì các thế lực thù địch vẫn đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thực hiện mục tiêu nhất quán của chúng là lật đ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nưc ta, trong đó, chúng tập trung vào các hoạt động:
Thứ nhất, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện, vừa suy diễn một cách tùy tiện, có tính công kích, nói xấu Đảng ta không hơn, không kém. Ai cũng hiểu rất rõ rằng, lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận toàn bộ quá trình thực thi nội dung các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều gắn liền với những thắng lợi to lớn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của cách mạng nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều đó cho thấy rất rõ Đảng ta đã, đang và chắc chắn sẽ thể hiện đầy đủ vai trò là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp là một hành động xét về mặt đạo lý thuần túy khác gì là vô ơn, bội nghĩa cần phải lên án mạnh mẽ, một thái độ như vậy đã gây phẫn nộ hơn lúc nào hết cho những ai biết chuyện.
Thứ hai, đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với lập luận theo lối “ru ngủ” những ai nhẹ dạ, mất cảnh giác như: “Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. Và rằng : “Nhất nguyên, độc đảng là vi phạm dân chủ, mất nhân quyền???”.
Những hành động đó nhắc nhở chúng ta cần hết sức cảnh giác, không bao giờ mơ hồ, ảo tưởng về sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa đế quốc và mục tiêu nhất quán của chúng là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Quá trình ra đời, phát triển và lãnh đạo cách mạng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành tố của hệ thống chính trị, là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, quyết định sự tồn tại và vững mạnh của hệ thống chính trị, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Cơ sở lý luận của luận điểm này, trước hết xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cho sự tồn tại của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.    
Sự lãnh đạo của Đảng ta đối với hệ thống chính trị quyết định tới bản chất chính trị của Nhà nước, đó là bản chất giai cấp công nhân, Nhà nước của dân, do dân và vì dân: thực hiện dân chủ với nhân dân và dân tộc. Sự lãnh đạo đó định hướng cho các hoạt động của Nhà nước được đúng đắn, ngăn ngừa và khắc phục những khuyết tật có thể nảy sinh của bộ máy và công chức nhà nước, làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt chức năng giai cấp và quản lý xã hội.
Hệ thống chính trị là thiết chế, cơ chế chính trị bảo       đảm và thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân chỉ được thực hiện và phát huy cao độ, có hiệu quả tích cực khi có định hướng chính trị đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nó khắc phục những nhận thức và hành vi sai trái về dân chủ như: dân chủ tư sản. dân chủ cực đoan, vô chính phủ, coi thường kỷ cương hoặc thờ ơ chính trị... trong xã hội.
Ở đây, một lần nữa cần khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng ta đối với hệ thống chính trị và xã hội không phải là sự áp đặt mà là sứ mệnh lịch sử giao phó cho Đảng ta; đồng thời Đảng ta xứng đáng với sứ mệnh cao cả mà nhân dân ta đã tin cậy trao cho Đảng. Hơn 80 năm qua, Đảng ta là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có được vai trò đó là do Đảng ta là một tổ chức chiến đấu, đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm những con người ưu tú, giác ngộ, tiên tiến nhất của dân tộc, hết mình phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của Đảng ta phù hợp với xu thế khách quan của thời đại. Đảng ta được trang bị chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm bắt và vận dụng quy luật khách quan phù hợp với điều kiện lịch sử đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc được nhân dân tin yêu, đùm bọc và ủng hộ; đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thực tiễn cũng cho thấy, ở nước ta hiện nay không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập, có nghĩa là tạo điều kiện pháp lý cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc của các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống Tổ quốc. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, các lực lượng chính trị đối kháng đã bị đánh đổ. Không có lý do gì chúng ta lại cho phép chúng phục hồi và hành động hợp pháp để chống lại Đảng ta và chế độ ta. Đó là điều Đảng ta và nhân dân ta công khai tuyên bố. Bởi vì, nếu làm điều đó, chỉ là sự mơ hồ về giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sự dại dột và ngây thơ, thậm chí ngu dốt về chính trị. Đó còn là sự vô ơn, bội nghĩa, phản bội lịch sử mà bao thế hệ đồng bào, đồng chí đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, một số kẻ đang lớn tiếng vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ. nhân quyền. Thực chất đó là thủ đoạn kích động, hòng gây mất ổn định chính trị để làm suy yếu, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế lịch sử cho thấy, tiêu chí của dân chủ đâu có phải là chế độ một đảng hay đa đảng, mà tuỳ thuộc vào thực chất nhân dân có là chủ thể của quyền hay không? dân chủ của số ít hay số đông ? Dân chủ vì ai và cho ai ? Chúng ta đã chứng kiến ở miền Nam nước ta thời kỳ dưới chế độ Mỹ - ngụy và hiện nay ở nhiều nước trên thế giới có chế độ đa đảng, thực chất các quyền tự do, dân chủ của nhân dân rất hạn chế, và bị chà đạp trắng trợn hoặc che đậy tinh vi; đồng thòi, đi liền với nó là tình trạng tranh giành quyền lực quyết liệt gây nên hỗn loạn xã hội.


ĐẨY LÙI "GIÓ ĐỘC" BẰNG SỨC MẠNH PHÁP LUẬT VÀ NIỀM TIN

Ngay sau khi Báo Quân đội nhân dân đăng bài viết “Nghiêm trị những hành vi vi phạm đạo lý và pháp lý” trong chuyên mục “Làm thất bại Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, vấn đề báo nêu đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội.
Suốt những ngày qua, tòa soạn đã nhận được rất nhiều cuộc điện thoại, tin nhắn, thư điện tử của nhiều tầng lớp nhân dân gửi về bày tỏ thái độ trước mưu đồ xấu xa của những phần tử phản động, cơ hội chính trị lợi dụng mạng xã hội bịa chuyện, vu khống, gán ghép hình ảnh hạ thấp uy tín và xúc phạm danh dự một số đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Hành động đê hèn đó của các thế lực thù địch dù xảo quyệt, tinh vi tới đâu cũng không thể và không đủ sức làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.
Tuy nhiên, dù thủ đoạn của chúng có tinh vi, xảo quyệt tới đâu cũng không đánh lừa được nhân dân Việt Nam. Bởi, chúng quên mất rằng: Dân tộc Việt Nam có truyền thống nhân nghĩa, thủy chung. Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đều là những người có công lớn đối với đất nước, đối với dân tộc. Đó là những vị tướng, những nhà khoa học, những người anh hùng đã hiến dâng trí tuệ, xương máu của mình vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, nhân dân Việt Nam dù ở miền xuôi hay miền ngược; ở thành phố hay vùng núi; người dân tộc Kinh hay đồng bào dân tộc thiểu số... đều không thể quên ơn. Nên nhớ rằng, trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, mỗi khi khuất phục được kẻ thù, các triều đại Nhà nước phong kiến Việt Nam còn cấp lương thảo, voi, ngựa để cho đối phương rút về nước. Nét văn hóa nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam là nền tảng vững chắc tạo dựng những giá trị nhân cách của con người Việt Nam.

Cần những giải pháp đồng bộ, kiên quyết và nghiêm khắc. Để xử lý những thông tin xuyên tạc, bịa đặt độc hại đó, dư luận bạn đọc phản hồi về Báo Quân đội nhân dân khẳng định: Nhà nước ta đã có hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, chặt chẽ để đấu tranh với những luồng “gió độc” thông tin trên. Các cán bộ quản lý ở Bộ Thông tin và Truyền thông cũng như giới luật sư đều chung nhận định cho rằng: Mạng xã hội dù “ảo” nhưng hành lang pháp lý rất rõ ràng đủ sức xử lý những hành vi tán phát thông tin xuyên tạc, bịa đặt, xúc phạm danh dự, xâm hại quyền lợi của cá nhân và tổ chức. Sự định hướng từ công luận và các cơ quan quản lý là rất quan trọng nhưng một yếu tố không thể thiếu là phải có “hệ miễn dịch” từ mỗi người. Niềm tin vào sự thật, tin vào sự lãnh đạo, vai trò của Đảng, Nhà nước sẽ đẩy lùi thông tin tiêu cực, đúng như điều mà cha ông ta đã đúc kết trong một câu nói rất hay: “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”.

Cảnh giác với sự xuyên tạc Nghị quyết TW4, Khóa XII của Đảng

Từ ngày 09-10 đến ngày 14-10-2016, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã họp để thảo luận, quyết định nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, có nội dung: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Thông qua sự kiện trên, các thế lực thù địch đã tuyên truyền xuyên tạc, làm nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, gây hoang mang trong nhân dân và cán bộ, đảng viên. Chúng cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đưa ra vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng không phải từ xa, từ bên ngoài mà từ trong nội bộ; rằng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đề ra từ rất lâu, nhưng đến nay chưa có kết quả, có phải chăng chỉ là hình thức, mị dân! Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ngày càng tăng… Phải chăng “hồi kết” của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đến!!!
Cần khẳng định rằng: Từ ngày thành lập đến nay, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự tồn vong của chế độ. Vì vậy công tác này được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Qua hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, công tác xây dựng Đảng đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, có tác động thúc đẩy đất nước vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, củng cố thêm niềm tin trong Đảng và nhân dân. Đó là, đã tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, suy thoái trong Đảng. Góp phần siết lại kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, tạo được chuyển biến tích cực bước đầu trong việc ngăn chặn một số mặt của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong Đảng. Khắc phục hạn chế khuyết điểm trong công tác cán bộ và trong thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Nhiều cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp đã chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đổi mới lề lối làm việc. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, xét xử nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, công tác xây dựng đảng có nơi, có lúc một số việc chưa đạt mục tiêu và còn có “một số hạn chế, khuyết điểm”.
Trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của “diễn biến hòa bình” và tác động tiêu cực của sự nghiệp đổi mới. Phát huy kết quả đạt được, đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh, cụ thể hóa công tác xây dựng Đảng với nhiều nội dung cụ thể bằng Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Nghị quyết xác định: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… là nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chỉ rõ nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân…. ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến” phải đấu tranh cho thật trúng, đặc biệt những người có chức, có quyền.


Như vậy, qua kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và những nội dung, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã xác định cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, và những hành vi ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kết quả qua hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI là bằng chứng xác thực nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng

CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU LỢI DỤNG KHIẾU KIỆN, TỐ CÁO ĐỂ KÍCH ĐỘNG NHÂN DÂN GÂY MẤT ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta rất thâm độc và xảo quyệt, chúng tiến hình chống phá trên mọi lĩnh vực, trong đó có âm mưu phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội dẫn đến làm mất ổn định chính trị của nước ta. Thực hiện mưu đồ đó, trong thời gian vừa qua các phần tử cơ hội chính trị trong nước và bọn phản động ngoài nước đang ra sức lợi dụng quyền dân chủ, những bất cập trong cơ chế, chính sách để cố tình dây dưa, tham gia khiếu kiện, tố cáo kéo dài, vượt cấp. Các đối tượng này cũng sẵn sàng lôi kéo, kích động các hộ khác tham gia khi có vấn đề liên quan đến quyền lợi với phương châm “đúng thì tốt, không đúng cũng chẳng sao”, gần đây nhất là qua sự cố môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung, khiếu kiện về đất đai ở Tây Nguyên và nhiều nơi trong cả nước... Mục đích khiếu kiện, khiếu nại còn mang màu sắc chính trị phản động, chống phá chính quyền nhân dân, môi trường đầu tư của nước ta để phá hoại nền kinh tế. Điều này được thể hiện rõ qua các khẩu hiệu mà “dân oan” đưa ra trong các cuộc tụ tập, biểu tình. Đó là những khẩu hiệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tạo ra những luồng dư luận trái chiều trong quần chúng nhân dân. Nguy hiểm hơn, các đối tượng còn sử dụng người già, phụ nữ, trẻ em như một công cụ, phương tiện để tiến hành chống lại sự cưỡng chế của các lực lượng chức năng. Nhiều nơi có thể tạo thành những điểm nóng về chính trị - xã hội rất nguy hiểm. Việc làm này, tạo điều kiện cho các trang mạng phản động trong và ngoài nước xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy thủ đoạn lợi dụng khiếu kiện, tố cáo để chống phá chính quyền nhân dân là hết sức nguy hiểm và nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy, mà mỗi người dân chúng ta cần nâng cao cảnh giác, không để cho các đối tượng xấu lợi dụng kích động chống phá chính quyền.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật trong lĩnh vực này và xác định giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước; làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo một mặt để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, một mặt sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình khiếu nại, tố cáo đang diễn ra bức xúc, gay gắt ở nhiều nơi, biểu hiện rõ nhất là số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, đơn thư gửi tràn lan..., có lúc, có nơi trở thành đặc biệt phức tạp, đặc biệt gay gắt. Trong số đó, phần lớn khiếu nại, tố cáo đều nảy sinh từ xã, phường, thị trấn - cơ quan quản lý toàn diện kinh tế - xã hội ở cơ sở. Theo dự báo của Thanh tra Chính phủ, bên cạnh những vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài, bức xúc trước đây chưa được giải quyết dứt điểm, thì hiện nay lại phát sinh một số vụ việc mới và điều đáng quan tâm là một số vụ việc có dấu hiệu bị các thế lực thù địch và kẻ xấu kích động, xúi giục nhân dân đi khiếu kiện đông người, phức tạp, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại một số địa bàn.
Để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, kịp thời ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cần triển khai thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trước hết là nhờ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền, nhất là ở cấp cơ sở. Các cấp ủy có nghị quyết lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các cấp chính quyền có kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, phân công trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể để giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước phải củng cố và chấn chỉnh công tác tiếp công dân, thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân, bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình độ, kinh nghiệm, phẩm chất đảm nhiệm công tác tiếp dân. Những vụ việc phức tạp các đồng chí lãnh đạo phải đích thân tiếp dân, đối thoại với công dân và trực tiếp chỉ đạo giải quyết với tinh thần "giải quyết để bảo đảm yên dân chứ không giải quyết xong việc".
Thứ ba, các cơ quan thanh tra Nhà nước tăng cường thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng và cán bộ, công chức có trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, tập trung vào những nơi có nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp, đông người, phức tạp; chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thấp; không chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên... để làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, kiến nghị chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, xử lý công khai, nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương, tăng cường hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân; tăng cường vận động, thuyết phục công dân chấp hành pháp luật và các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối với các trường hợp lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động, gây rối thì phải tiến hành làm rõ, xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự đồng bộ, nâng cao tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật; chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, tài chính, ngân sách, chính sách xã hội; thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân; đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, hài hòa, tạo động lực mới trong phát triển kinh tế - xã hội và hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo. 

QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM ĐƯỢC TÔN TRỌNG VÀ BẢO ĐẢM THỰC THI TRÊN THỰC TẾ


Việt Nam là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Khi chưa có sự du nhập của các tôn giáo từ bên ngoài, ở Việt Nam đã hình thành hệ thống tín ngưỡng dân gian hết sức phong phú và đậm tính nhân văn. Người Việt Nam vốn tính khoan dung, việc tiếp nhận các tôn giáo mới không diễn ra một cách ồ ạt, nhưng cũng không có sự đố kỵ, chối bỏ. Các tôn giáo, tín ngưỡng sống hoà đồng. Ngay trong một gia đình, người ta có thể vừa thờ tổ tiên ông bà, thờ các vị thần linh, lại vừa thờ đức Phật hoặc đức Chúa Jê-su. Người theo đạo và người không theo đạo đối xử với nhau trên tình ruột thịt nghĩa đồng bào, người trong một nước thì thương nhau cùng. Có lẽ vì thế mà lịch sử phát triển tôn giáo ở Việt Nam không có những xung đột lớn, càng không có những cuộc gọi là Thánh chiến như ở một số quốc gia khác.
Tuy nhiên ở từng giai đoạn cụ thể có những thế lực đối kháng với dân tộc Việt Nam đã sử dụng tôn giáo như một thứ công cụ chính trị hòng gây sự thù hằn, chia rẽ, gây khó khăn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Các thế lực này còn gắn kết vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc, từ vấn đề tôn giáo tạo nên vấn đề dân tộc, thực hiện cái điều mà không một người Việt Nam chân chính nào muốn, là chia rẽ khối đại đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo; quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp cũng ghi nhận pháp luật bảo hộ những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo, và nghiêm cấm việc xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm những điều trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu lập nước đã vun đắp tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, kêu gọi giáo lương đoàn kết, chăm lo việc đạo, không quên việc đời. Ngay trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ lâm thời ngày 3 tháng 9 năm 1945, Người đã nhấn mạnh:"Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào lương và đồng bào giáo để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết".Trong thành phần Quốc hội và Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Việt Minh đều có các vị chức sắc tôn giáo. Trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Noel năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Tôi mong đồng bào đoàn kết thêm chặt chẽ trong cuộc kháng chiến để phụng sự đức Chúa, phụng sự Tổ quốc, và thực hiện lời Chúa dạy "Hoà bình cho người lành dưới thế". Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, người theo đạo hay không theo đạo, đều là đồng bào, đều cùng một dòng giống, cội nguồn. Gần đây nhất, Nghị quyết Ban chấp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5, khoá VIII, cũng đã "Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện... trong tôn giáo".
Ở Việt Nam, những người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, theo tôn giáo này hay tôn giáo khác, đều thường tâm niệm cái câu "kính chúa yêu nước", "tốt đời đẹp đạo", "sống phúc âm giữa lòng dân tộc"... Trên cái nền tín ngưỡng dân gian truyền thống, các tôn giáo ở Việt Nam tồn tại một cách hoà hợp, đan xen và cùng hướng tới con đường lớn mà dân tộc, đất nước đang hướng tới.
Muốn nhận xét, đánh giá một việc làm của một đất nước, nên xem chủ trương chính sách của đất nước đó về vấn đề ấy như thế nào, và chính sách ấy được thực hiện trên thực tế ra sao. Chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là như vậy, trước sau như một, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Trên thực tế không có chuyện như những ai đó đứng bên ngoài tưởng tượng nên, rằng "Việt Nam cưỡng ép người bỏ đạo", Việt Nam "đàn áp nhiều người Tin lành thiểu số", rằng, ở Việt Nam, "hiện có người đang bị giam giữ vì tôn giáo"...Gần 100 năm đô hộ, đạo Công giáo được thực dân Pháp dành nhiều ưu ái, nhưng suốt thời gian ấy, Toà thánh Vatican cũng chỉ bổ nhiệm được 4 giám mục người Việt Nam. Trong khoảng thời gian 30 năm, từ 1945 đến 1975, ở cả 2 miền Nam, Bắc, cũng chỉ có 33 vị giám mục được bổ nhiệm. Vậy mà từ năm 1975 đến 2000, trong vòng 25 năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Toà thánh Vatican đã bổ nhiệm đến 42 vị giám mục. Số lượng người theo các đạo mỗi năm một tăng thêm, đến nay cả nước có gần 20 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm 1/4 dân số cả nước. Càng ngày, càng có thêm nhiều tín ngưỡng truyền thống được khôi phục, thoả mãn đời sống tâm linh của người dân. Khắp 2 miền Nam, Bắc của Việt Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, các cơ sở thờ tự tôn giáo, phục vụ tín ngưỡng được phục hồi, sửa chưã, nâng cấp, xây mới. Việc làm này không những không bị ngăn cấm, mà ngược lại, ở những nơi có điều kiện, chính quyền còn hỗ trợ về vật chất, động viên về tinh thần. Vào dịp lễ hội, những ngày lễ trọng của các tôn giáo, không chỉ đồng bào theo đạo mà đông đảo đồng bào trong vùng và chính
Sự đạo cũng như việc đời, việc nào cũng phải theo lề theo luật, đều tuân theo luật đời. Nếu như có chuyện một ai đó bị pháp luật xử lý, thì không nên nghĩ một cách gượng ép là do người ấy theo đạo này theo đạo kia hoặc không theo đạo nào. Pháp luật đối xử công bằng với mọi công dân, không phân biệt công dân theo đạo hoặc không theo đạo, thì đó mới là luật pháp công bằng, xã hội văn minh. Pháp luật Việt Nam cũng thế, pháp luật các nước cũng thế. Nhà nước Việt Nam không những tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động mà còn bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, trong đó có các tín ngưỡng cổ truyền. Một thứ tôn giáo nào đó lại có cách hành xử trái ngược với thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến đạo đức truyền thống, đi ngược với lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, thì chắc chắn những thứ gọi là tôn giáo ấy, sẽ không được người Việt Nam chấp nhận.


KHÔNG CÓ “QUÂN ĐỘI TRUNG LẬP”, “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”


Hiện nay, các thế lực thù địch đang tập trung chống phá ta trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, trong đó có luận điệu phi lý “Quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị”; “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào”. Xét cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn, quan điểm trên là vô chính trị, phản khoa học, lừa bịp nhằm vô hiệu hóa quân đội cách mạng, làm lạc hướng quân đội, phục vụ các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại đã khẳng định: Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị!
K.Clausewitz - nhà lý luận quân sự tư sản của nước Phổ đã khái quát luận điểm: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị”.
Xét về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực, phục vụ cho mục đích chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất định. Do vậy, không có và không bao giờ có quân đội “trung lập về chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “phi giai cấp”. Tính chất chính trị của quân đội thể hiện tập trung và rõ nét ở mục tiêu chiến đấu, tổ chức lực lượng, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và chức năng, nhiệm vụ của quân đội; phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Với tư cách là một tổ chức của nhà nước, do nhà nước xây dựng, nên quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước; “Bản chất giai cấp của nhà nước như thế nào thì quân đội - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, quân đội của bất cứ nhà nước bóc lột nào cũng đều là công cụ bạo lực chủ yếu để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, để đàn áp, áp bức những người lao động, để thực hiện chính sách cai trị của mình.
Khẳng định bản chất giai cấp của quân đội kiểu mới - quân đội của giai cấp vô sản, V.I.Lênin viết: “Quân đội chúng ta là quân đội giai cấp chống lại giai cấp tư sản”. V.I.Lênin vạch rõ bản chất, vai trò của quân đội tư sản “là công cụ vững chắc nhất để duy trì chế độ cũ, là thành trì kiên cố nhất để bảo vệ trật tự tư sản và sự thống trị của tư bản”.
Về bản chất chính trị của quân đội, V.I.Lênin khẳng định: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”. V.I.Lênin đã phê phán quan điểm về sự “trung lập hóa” chính trị, “phi chính trị” hóa quân đội của các chính trị gia tư sản. Người cho rằng, đó là điều bịa đặt hèn hạ và dối trá. V.I.Lênin vạch rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Lịch sử xây dựng quân đội của các nước trên thế giới cho thấy, trong bất kỳ xã hội nào, mọi giai cấp cầm quyền và nhà nước của nó đều quan tâm xây dựng quân đội về chính trị, nhằm bảo đảm cho quân đội luôn trung thành và phục vụ lợi ích của giai cấp và nhà nước đã sinh ra và nuôi dưỡng nó. Luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, trả quân đội về cho nhà nước,… thực chất là đòi phi chính trị của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xa rời chính trị vô sản để từng bước du nhập chính trị tư sản, làm cho quân đội trở thành công cụ bảo vệ lợi ích tư sản, phản bội lại lợi ích của giai cấp công nhân, chống lại nhân dân. Thực chất của  “Phi chính trị hóa” quân đội là một mũi tiến công chủ yếu nhằm vô hiệu hóa quân đội, làm cho quân đội xã hội chủ nghĩa mất phương hướng, rơi vào quỹ đạo chính trị phản động mà các thế lực tư bản, đế quốc đã thực hiện đối với quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây.
Quân đội chỉ mang bản chất của một giai cấp - giai cấp thống trị chi phối quyền lực nhà nước và tổ chức, nuôi dưỡng sử dụng quân đội đó. Không bao giờ và không ở đâu có nhà nước “siêu giai cấp”, có “quân đội phi giai cấp”.
Theo V.I.Lênin nguyên tắc căn bản nhất trong những nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới là: Đảng Cộng sản phải lãnh đạo chặt chẽ quân đội về mọi mặt, trong mọi tình huống. Sự lãnh đạo đó là tất yếu khách quan, là một quy luật nhằm làm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản, với giai cấp công nhân, giữ vững bản chất công nhân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về quân đội kiểu mới, quân đội công nông, sáng lập ra quân đội kiểu mới của dân tộc ta. Người đặc biệt coi trọng nhân tố chính trị trong xây dựng quân đội: “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng quân đội về chính trị. Theo Người, “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc bất di bất dịch để giữ vững và không ngừng phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Người căn dặn: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu…”, “quân và dân như cá với nước”, “nếu chúng ta tách rời nhân dân, Đảng… thì chúng ta không tài nào lập được công trạng gì”.  “Chính trị là gốc”, “người trước súng sau” đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình tổ chức, giáo dục, rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, tổ chức và hoạt động của quân đội có những đặc điểm riêng gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể, song đều tuân theo quy luật “quân sự phục tùng chính trị”.
Trong thế giới đương đại, quan điểm “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có cấu trúc đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Tuy vậy, trong thực tế, bất cứ đảng chính trị cầm quyền nào cũng tìm mọi cách để nắm quân đội, tìm sự hậu thuẫn từ quân đội. Điều đó có thể thấy rõ ở Thái Lan. Chính phủ và các đảng phái chính trị ở nước này đều ra sức tranh thủ sự ủng hộ về chính trị của quân đội.
Trong nền chính trị với cấu trúc lưỡng đảng ở Mỹ, quân đội Mỹ không hề đứng ngoài chính trị. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh để can thiệp vào tình hình chính trị ở các nước và các khu vực, như Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, chiến tranh ở Nam Tư năm 1999, chiến tranh ở Ápganixtan năm 2001, chiến tranh ở Irắc năm 2003, ở Libya những năm gần đây…; kích động làn sóng “Mùa xuân Ảrập” dẫn đến biến động chính trị ở khu vực Bắc Phi - Trung Đông từ năm 2010 đến nay. Như vậy, không thể nói quân đội Mỹ đứng ngoài chính trị.
Lịch sử cách mạng thế giới cũng đã chứng minh, sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào những năm 80 và 90 thế kỷ XX là do việc xóa bỏ quy định của hiến pháp về vai trò lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phi chính trị hóa quân đội. Do “phi chính trị hóa” quân đội, thực chất là phi chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của quân đội nên quân đội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây đã mất sức chiến đấu và không còn là quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân.
Thực tiễn cho thấy, ở những nước có sự tồn tại của nhiều đảng phái chính trị, thực hiện cái gọi là “phi chính trị hóa”quân đội, đang phải đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột, bất ổn chính trị - xã hội gia tăng. Quân đội ở các nước này gặp phải không ít trở ngại trong việc duy trì sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đồng thời; có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tính chất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; ở sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và gắn bó máu thịt với nhân dân; ở cơ chế lãnh đạo, chỉ huy thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội.
Hơn bảy mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trực tiếp tổ chức, giáo dục, rèn luyện, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành và đã thực sự trở thành lực lượng chính trị - vũ trang hùng mạnh, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Quân đội ta luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, chiến đấu mưu trí, anh dũng, kiên cường; đoàn kết và đồng cam cộng khổ với nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhờ có chính trị vững mạnh mà quân đội ta không ngừng trưởng thành và lớn mạnh như ngày nay. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự vững mạnh về chính trị của quân đội ta. Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là một quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng của Đảng “vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc, mặc dù trang bị vũ khí, kỹ thuật của quân đội ta thua kém các thế lực xâm lược, nhưng nhờ có giác ngộ chính trị cao, nhờ có tinh thần chiến đấu dũng cảm, thông minh, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, quân đội ta đã đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và thế lực bành trướng, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đưa nước ta bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ mới, trước tình hình chính trị thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tiếp tục xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Quân đội luôn vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp, luôn khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng là lực lượng chính trị, là công cụ bạo lực sắc bén tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vì thế, mỗi chúng ta cần phải thống nhất về nhận thức đó là để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, thực sự trở thành lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, phải thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng với quân đội. Xa rời nguyên tắc đó, quân đội sẽ mất sức chiến đấu, không còn là quân đội cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC THÔNG TIN ĐỘC HẠI XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Với dã tâm và mưu đồ thâm độc phá hoại thành quả cách mạng nước ta, những kẻ thù địch với chính quyền cách mạng và nhân dân đội lốt những nhà “dân chủ”, “nhân quyền” liên tục lợi dụng những sự kiện chính trị trong nước để tổ chức các hoạt động kích động, chống phá. Và không ngoài dự đoán, nhân cơ hội Đảng ta tổ chức đẩy mạnh các hoạt động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xử lý những vụ việc sai phạm của cán bộ, đảng viên. Chúng đã tiến hành hàng loạt các hoạt động  đả kích, xuyên tạc thổi phồng, cường điệu hóa nhằm bôi nhọ, nói xấu đội ngũ cán bộ của Đảng để từ đó quy chụp vào bản chất của Đảng, của Nhà nước và chế độ ta. Cả tháng nay, bên cạnh việc xuyên tạc, kích động liên quan đến Formosa tại Hà Tĩnh, các nhà dân chủ trí trá tiếp tục xoay quanh vụ việc ông Trịnh Xuân Thanh để chống phá.
 Xuyên tạc cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước nhằm gây chia rẽ dân tộc, tạo sự hoài nghi, phá hoại đoàn kết nội bộ trở thành trọng tâm trong hành trình chống phá Việt Nam theo phương thức “bất bạo động” do Việt Tân cầm đầu và anh Mẽo chỉ đạo, tài trợ kiêm tổng đạo diễn. Nhân việc Đảng chỉ đạo làm rõ vụ ông Trịnh Xuân Thanh, đám phản loạn ra sức nhảy vô xuyên tạc, bịa chuyện, thổi phồng, bóp méo với đủ thứ thủ đoạn xảo trá. Trên các diễn đàn phản loạn như Việt Tân, Dân Luận, Blogboxit, Anhbasam… đăng tải rất nhiều bệnh phẩm độc hại. Điển hình như “Trịnh Xuân Thanh con dê tế thần”, “Báo cáo của ông Trịnh Xuân Thanh gửi Ủy ban Kiểm tra Trung ương?”… Nội dung của các bài viết liên quan đến ông Trịnh Xuân Thanh trên các diễn đàn dân chủ trí trá mang đậm chất xuyên tạc. Dựng lên câu chuyện phe cánh, thanh trừng, rồi đủ thứ với các dẫn chứng bịa đặt hoàn toàn.
Mới đây, ngày 07/9/2016, đồng loạt trên các diễn đàn phản loạn đăng tải 03 trang tài liệu, có diễn đàn phản loạn thì viết đó là “báo cáo của ông Trịnh Xuân Thanh gửi Ủy ban kiểm tra TW”, có chỗ thì chú thích là “đơn xin ra khỏi Đảng của ông Trịnh Xuân Thanh”… Gọi là gì đi chăng nữa thì cũng khẳng định chắc chắn: các tài liệu đó là mạo danh trắng trợn, do chính tay đám phản loạn trí trá dựng lên để có cái mà xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ nhằm hạ uy tín của Đảng, chống phá Nhà nước Việt Nam.
Trên Facebook Việt Thắng và Anhbasam giật tít “Nghịch lý: Trịnh Xuân Thanh không tin Tổng Bí thư”. Tiếp đó đăng tải 03 trang tài liệu xuyên tạc mạo danh và những lời bình phẩm theo kiểu “mẹ hát con khen hay”. Tự vẽ ra và tự bình phẩm. Dối trá, mạo danh để xuyên tạc vốn dĩ trở thành thủ đoạn bất biến. Luận điệu xảo quyệt phụ họa cho tài liệu mạo danh “Nếu ông không còn tin tổ chức đó thì ông mới ra chứ, còn chỉ không tin TBT mà đã ra thì lời thề ngày xưa của ông là đồ đểu. Nếu không tin TBT ông có thể khiếu nại, tố cáo ông ta, bảo lưu đến tận đại hội Đảng toàn quốc cơ mà”. Miệng lưỡi của những kẻ bợ đít, ngậm USD của ngoại bang nên tráo trở đến kinh ngạc.
Tóm lại, những ngày qua và nhiều ngày sắp tới, đám phản loạn dưới danh nghĩa “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”… sẽ tiếp tục tung ra nhiều luận điệu, thủ đoạn xảo trá để xuyên tạc, kích động gây chia rẽ, hạ uy tín của Đảng, phá hoại đoàn kết nội bộ. Cuộc chiến chống tham nhũng sẽ tiếp tục bị chúng đả kích, xuyên tạc và bôi nhọ. Nhiều tin đồn, luận điệu thất thiệt, giả mà như thật, bịa đặt hoàn toàn với các tình tiết mĩ miều, ly kỳ… sẽ được tung ra trên các diễn đàn phản loạn. Tuyệt nhiên không tin được các thông tin ngoài luồng, bịa đặt kiểu như vậy. Mục đích của chúng là gây rối loạn và càng rối loạn thì đám phản loạn lại càng mừng vui. Do vậy, mỗi người dân, cán bộ, đảng viên, thanh niên, sinh viên… cần nâng cao cảnh giác, miễn dịch với các thông tin độc hại.

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Không đồng nghĩa độc đảng với tham nhũng


(ST) Luận điệu không mới của những người không ưa chế độ một đảng hiện nay lại được họ nhắc lại rằng: "Chế độ độc đảng làm tăng tham nhũng" (!). Nói về nguyên nhân của tình trạng tham nhũng, nhìn vào các nước duy trì thể chế chính trị tư sản và thực hiện chế độ đa đảng cũng thấy rõ: tình trạng tham nhũng ở nhiều nước vẫn rất nghiêm trọng.

Thật vậy, theo bảng xếp hạng Chỉ số tham nhũng của Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International - TI) năm 2015 được công bố ngày 27-01-2016, cho thấy, tham nhũng vẫn là vấn nạn toàn cầu. Chỉ số tham nhũng dựa trên ý kiến của các chuyên gia về vấn nạn tham nhũng trong lĩnh vực công với nhiều yếu tố như lãnh đạo chính phủ sẽ bỏ qua hay trừng phạt những cá nhân tham nhũng, sự phổ biến của nạn hối lộ và các cơ quan công quyền đáp ứng nhu cầu của công dân như thế nào đã chứng minh, các quốc gia đa đảng vẫn có tỷ lệ tham nhũng cao.
Những quốc gia có số điểm thấp, như: Hungary, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan và các nước khác (Azerbaijan, Guyana và Sierra Leone, mặc dù đã tăng từ 27 điểm năm 2014 lên 29 điểm năm 2015) vẫn là những nước có số điểm thấp đồng nghĩa với tỷ lệ tham nhũng còn cao. Năm 2015, Brazil mất 5 điểm và tụt xuống vị trí thứ 76.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng là một trong những "vùng trũng" của nạn tham nhũng khi có mức điểm trung bình chỉ là 43. Vì vậy, ông Jose Ugaz, người đứng đầu Tổ chức Minh bạch quốc tế, nhận định: "Chỉ số tham nhũng 2015 cho thấy rõ ràng rằng nạn tham nhũng vẫn còn là một vấn nạn lớn trên toàn cầu". Vì thế không thể cho rằng "Chế độ độc đảng làm tăng tham nhũng".

Với 31 điểm, Việt Nam xếp thứ 112 trong tổng số 168 quốc gia và vùng lãnh thổ được TI khảo sát, thống kê. Tuy số điểm chưa cao, nhưng cơ quan đầu mối quốc gia của TI tại Việt Nam khẳng định, trong năm 2015 Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống tham nhũng và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, thể hiện qua việc sửa đổi một số nội dung liên quan đến tội tham nhũng trong Bộ luật Hình sự, xây dựng dự thảo Luật tiếp cận thông tin, ban hành các quy định, chính sách về tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan công quyền và tập trung vào việc điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng. Với quyết tâm cao trong phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị hy vọng năm 2016, số điểm của Việt Nam sẽ tăng, đồng nghĩa tỷ lệ tham nhũng sẽ giảm hơn năm 2015./.

Lên án và trừng trị

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc hình thành khác nhau, từ nội tại nhu cầu văn hóa tâm linh của đất nước hay du nhập từ nước ngoài bằng những con đường khác nhau, nhưng cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam đều luôn đoàn kết, thực hiện sống “tốt đời, đẹp đạo”, gắn bó, phục vụ lợi ích của nhân dân và dân tộc. Qua đó, góp phần quan trọng làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, đặc sắc; đồng thời, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Từ khi ra đời đến nay, với cương lĩnh chính trị, đường lối đúng đắn, gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc đoàn kết, đứng lên đấu tranh giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay, đất nước đã và đang tiếp tục thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và đạt được những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử. Trong công cuộc trường chinh ấy có công lao to lớn của đồng bào các tôn giáo. Đây là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đại đa số những tín đồ tôn giáo chân chính luôn phấn đấu để “nước vinh, đạo sáng”, thì không ít kẻ núp bóng tôn giáo có những hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, thậm chí mưu đồ chống đối sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp. Điều đáng tiếc là trong số này, có những chức sắc, chức việc tôn giáo.
Thời gian gần đây, tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp. Ở trong nước, một số chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong nước gặp khó khăn, sự cố,… những kẻ đội lốt tôn giáo có hoạt động vi phạm pháp luât, chống phá quyết liệt sự phát triển của đất nước. Trong đạo Phật, có thể kể ra đây kẻ tự xưng là “hòa thượng” Thích Không Tánh, thuộc cái giọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất(!). “Hòa thượng” này cho rằng: Chùa Liên Trì là cơ sở của Phật giáo và việc Nhà nước giải tỏa là vi phạm quyền tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo(!) Thực chất không phải vậy, ở đó không có cái là Chùa, mà chỉ là khu đất thờ tự, do người dân tự xây dựng nên và Thích Không Tánh đã vào ở, lấn chiếm, xây dựng trái phép. Hơn nữa, ngày nay ở Việt Nam không có cái gọi là Giáo hội Phát giáo Việt Nam thống nhất, mà chỉ có Giáo hội Phật giáo Việt Nam; “Chùa” không phải là cơ sở thờ tự được các cấp có thẩm quyền của Nhà nước cấp phép cho xây dựng. Như vậy, hành vi của Thích Không Tánh là núp bóng tôn giáo, vi phạm pháp luật và cần phải lên án, nghiêm trị. Trong Công giáo, một số ít chức sắc, chức việc, núp bóng tôn giáo này có những hoạt động đi ngược với giáo lý, giáo luật, chủ trương, đường hướng của Giáo hội, chống phá chính quyền các cấp quyết liệt. Có thể kể ra đây một số kẻ chủ chăn, như: Nguyễn Thái Hợp, Trần Đình Lai, Phan Văn Lợi, Đặng Hữu Nam, v.v. Họ sử dụng “quyền năng” tôn giáo để trực tiếp xuyên tạc tình hình ô nhiễm biển ở 04 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế do Công ty Formosa gây ra, xuyên tạc chính sách hỗ trợ nhân dân trên địa bàn của Nhà nước, xúi dục, tổ chức, buộc bà con giáo dân giáo phận Vinh và các giáo xứ: Phú Yên, Đồng Yên, Yên Lạc,… bỏ công ăn, việc làm, tụ tập đông người, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Không chỉ vậy, các chủ chăn này còn nối giáo cho các thế lực phản động bên ngoài chống phá sự phát triển bền vững của đất nước. Thực tế cho thấy, những hành động đó là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của Giáo hội Công giáo Việt Nam, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh của người theo đạo và không theo đạo, hình ảnh đất nước Việt Nam năng động, hòa bình, nhân văn mến khách.

Những hành động này  nhất định bị lên án và trừng trị trước pháp luật một cách nghiêm minh. Mong rằng, bà con giáo dân cần tỉnh táo trước những lời nói, hành động phản dân, hại nước của những kẻ “chủ chăn” trên, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng cuộc sống của chính mình và đất nước giàu mạnh.

Bùi Tín lại bất tín


Nhắc đến đến những kẻ trở cờ, vong ân, bội nghĩa với quê hương đất nước, không ai lạ gì Bùi Tín. Ở cái tuổi gần đất xa trời, ông ta không hề mảy may sám hối về những việc làm phản bội Tổ quốc, nơi đã sinh ra và dung dưỡng mình thành người. Vậy mà ông ta lại viết bài đăng trên Blog VOA với nhận định bừa rằng: “chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, không có thật, tin vào khái niệm này là một sự ngây thơ, ngốc nghếch”. Ông ta cho rằng, “chủ nghĩa xã hội” được nhắc đến ở Việt Nam chỉ là “một khái niệm ảo, không có thật, không một ai nhìn thấy và cảm thấy”(!).

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh sự ra đời, tồn tại của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một học thuyết và một xã hội hiện thực. Đó là, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống, có vai trò quyết định đến sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đóng vai trò quyết định trong đánh bại chủ nghĩa phát xít, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã được khẳng định với nhiều vấn đề về chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội mà chủ nghĩa tư bản không thể làm được. Chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu phấn đấu, là khát vọng vươn tới của nhân dân nhiều nước trên thế giới. Sự tan rã của mô hình chủ nghĩa xã hội ở một số nước Đông Âu và Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX không nói lên bản chất trường tồn của chủ nghĩa xã hội. Đó chỉ là hiện tượng thứ yếu do những hạn chế, sai lầm, khuyết điểm của Đảng Cộng sản. Hiện tại chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và tiếp tục khẳng định tính ưu việt trong thời đại ngày nay.
Ở Việt Nam, kiên định với mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của xã hội. Vị thế, uy tín của Việt Nam không ngừng nâng cao trên trường quốc tế. Đó là sự thật!
Nếu Bùi Tín đầu óc còn tỉnh táo thì thử so sánh đời sống của nhân dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hiện nay như thế nào? Những thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay được cả thế giới ghi nhận, khâm phục. Đó là sự thật mà bất kỳ người dân Việt Nam hay khách du lịch nào đến Việt Nam đều nhận thấy, không một ai có thể phủ nhận! Hiện thực là thế chứ không phải là “ảo” như những nhận định sặc mùi phản động của Bùi Tín.

Lý luận của Bùi Tín đúng là loại “dấu đầu hở đuôi”, ý đồ của ông ta là muốn phủ nhận sạch trơn chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, ca ngợi hết lời chủ nghĩa tư bản. Càng nói Bùi Tín lại càng tự phơi ra cho mọi người thấy rõ bộ mặt tráo trở của một kẻ cơ hội. Thật là trơ trẽn hết mức! Mang cái danh “nhà báo” mà lại như thế ư Bùi Tín? Thật nhục nhã cho thân phận một kiếp người sống dặt dẹo nơi đất khách, quê người - kẻ phản phúc Bùi Tín./. (ST)

Vũ Đông Hà - kẻ cuồng ngôn

Trên trang Bà đầm xèo, ngày 24/8/2016 có bài viết của Vũ Đông Hà với lời lẽ của kẻ cuồng ngôn như chó dại cắn càn, hắn đã xuyên tạc thô thiển về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
            Trước hết, phải nói rằng, tôi không bênh vực ông Nguyễn Phú Trọng, nhưng phải bảo vệ Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản. Bởi đây là chức danh đại diện cho quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế. Vì thế, kẻ nào xúc phạm chức danh cao quý này là kẻ ấy đã coi thường, xúc phạm chính quốc gia, dân tộc mình. Do vậy, kẻ đó không xứng đáng là dòng dõi con cháu Lạc Hồng, không thuộc máu đỏ da vàng; chỉ là loài xúc sinh mà thôi, không hơn không kém. Vũ Đông Hà là một kẻ như thế. Trang Bà đầm xèo đăng bài viết của Hà cũng cùng một giuộc với Hà, nghĩa là cũng thuộc loài xúc sinh.
            Tại Hội nghị Ngoại giao vào ngày 22/8/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tư tưởng "giữ nước từ xa, từ khi nước chưa nguy", và "nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng "sức mạnh mềm" lấy gốc từ tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa dân tộc". Rõ ràng như ban ngày, thế mà Vũ Đông Hà cuồng ngôn cho rằng, đó là phát biểu của "một Lê Chiêu Thống thời đại với cái lưng khòm hướng về phương Bắc"(!). Hắn ta cố gán ghép, quy chụp một cách thô thiển đến vậy. Hắn muốn phá quan hệ láng giềng Việt - Trung, nên tìm mọi cách dù là bỉ ổi nhất để thực hiện. Hà và đồng bọn không ý thức hay cố tình nhắm mắt làm ngơ trước thực tế khách quan là, trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ta có thể có nhiều bạn, nhưng láng giềng thì lịch sử đã mặc định, dù muốn hay không thì không thể thay đổi. Đất nước đâu phải con thuyền, bến không lặng thì ta đánh thuyền đi neo đậu bến khác được! Do vậy, muốn đất nước hòa bình, ổn định và phát triển thì phải có láng giềng tốt. Bằng không thì đất nước không thể phát triển được mà chỉ lo và tìm cách đối phó, chả thể làm được gì cả làm sao phát triển được đây? Đến lúc đó, cái mạng sống của Hà chẳng biết có còn không, mà lại cứ tìm cách phá vỡ quan hệ láng giềng là sao? Lịch sử dân tộc cho thấy, với ông bạn láng giềng phía Bắc thì phải có lúc nhu lúc cương. Dù ta có chiến thắng trong chiến tranh thì khi tha tù binh cũng phải "đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa" và tiếp tục tìm cách bang giao hữu hảo để cùng hợp tác và phát triển. Hà cớ gì ngày nay lại cứ phải làm khác ông cha? Từ bài học trong lịch sử của ông cha, ngày nay phải kế thừa đưa lên tầm cao mới, phải tìm nét tương đồng để hợp tác và phát triển, nét khác biệt thì phải kiên quyết đấu tranh, nhất là sự khác biệt trong nhận thức về chủ quyền biển đảo. Không vì còn sự khác biệt trong nhận thức về một số vấn đề mà "vơ đũa cả nắm", quy tất cả là khác biệt để "cố" tỏ ra ta đây là "yêu nước" để đấu tranh nhưng thực ra lại làm hỏng việc lớn, lợi bất cập hại.
Hà cho rằng, phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Môi trường hòa bình thuận lợi cho phát triển; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu” là không đúng. Hà đúng là kẻ "mũ ni che tai". Sao không nhìn ra thế giới để luôn thấy sự bất ổn với các vụ khủng bố ở nhiều nơi của nhiều nước. Với sự ra đời của cái gọi là nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đang hoành hành ở nhiều nơi. Ngay ở châu Âu đâu có yên bình. Mới đây, vòng chung kết giải vô địch bóng đá châu Âu năm 2016 (còn gọi là UEFA Euro 2016) được tổ chức tại Pháp vào mùa hè năm 2016, bắt đầu từ ngày 10 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 2016 hay Thế vận hội Mùa hè 2016 hay còn được gọi là Rio 2016, là một sự kiện thi đấu nhiều môn thể thao được tổ chức theo truyền thống của Thế vận hội, diễn ra tại Rio de Janeiro, Braxin từ ngày 5 tới 21 tháng 8 năm 2016 các nước này phải căng ra để đối phó với khủng bố. Đấy là chưa nói đến chiến sự đã kéo dài ở một số nước mà chưa có hồi kết. Còn ở Việt Nam, tuy thỉnh thoảng có sự tụ tập đông người ở thành phố lớn, như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, người ta "mượn gió bẻ măng" với các phong trào bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa; bảo vệ môi trường biển,… Trong số đó, chỉ có một số kẻ chủ mưu khoác áo là bảo vệ chủ quyền biển đảo nhưng thực chất để thực hiện mưu đồ riêng. Còn phần lớn người dân chưa hiểu sự thâm thúy và chưa bóc được vỏ bọc của những kẻ cầm đầu nên đã bị những kẻ này lợi dụng bởi những khẩu hiệu được đưa ra đã rất đi vào lòng người. Những "phong trào" này ít nhiều có gây nên sự mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhưng về cơ bản so với các nước trên thế giới thì Việt Nam là nước ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và phát triển thì đâu có sai?
Độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững không đúng sao? Việc tàu Hải Dương 981, năm 2014 vào sâu trong vùng biển nước ta đã phải rút khỏi trước thời hạn mà họ tuyên bố, không phải là sự thắng lợi của ta trong bảo vệ độc lập, chủ quyền à?
Chẳng lẽ, quan hệ đối ngoại của Việt Nam ngày nay không rộng mở? Từ vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1954, đến 2015, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có quan hệ hợp tác tốt với tất cả nước lớn, trong đó có 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ấy thế mà Vũ Đông Hà cứ viết bừa. Hắn đúng là kẻ cuồng ngôn./. (ST)

Nguyễn Quang A không xứng với học vị tiến sĩ

  Ngày 14-10-2016, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì đã bế mạc. Tại Hội nghị này Trung ương bàn về những chủ trương, giải pháp trước mắt cũng như lâu dài để thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển bền vững và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là việc làm nằm trong chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trong bài phát biểu bế mạc, về công tác xây dựng, chính đốn Đảng, Tổng bí thư đã chỉ ra “những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống” của một bộ phận không nhỏ cán bộ và đảng viên là mối “nguy hiểm khôn lường”, nên cần có những chủ trương, giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi. Trong đó, “tập trung vào 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp” bao gồm: “về giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội”. Cấp ủy các cấp sẽ “rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; và phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận”.
Có thể khẳng định rằng, đây là việc làm cần thiết, một lần nữa thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tránh nhiệm của Đảng đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt Nam chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và Nhà nước có cơ sở chính trị, pháp lý rõ ràng; mọi sự thắng lợi của dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay đều gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là sự thật lịch sự không thể bác bỏ. Cho nên, Đảng luôn tự thấy mình hằng ngày, hằng giờ phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đáp ứng với vai trò lịch sử mà nhân dân đã giao phó. Vì vậy, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối để củng cố về tổ chức, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, kiên quyết ngăn chặn, loại trừ những hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến sức lãnh đạo, uy tín của Đảng, làm cho “lòng dân, ý Đảng” luôn hòa quyện. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã một lần nữa đáp ứng yêu cầu đó và được dư luận các tầng lớp nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đồng tình, ủng hộ.
Thế mà, Nguyễn Quang A, người có học vị tiến sĩ, tự nhận mình là một “nhà dân chủ”, luôn “vì nước, vì dân”, khi trả lời phỏng vấn phóng viên An Tôn, thuộc VOA tiếng Việt lại có những phát biểu cho rằng 04 giải pháp của Trung ương 4 (khóa XII) là: “Hoàn toàn vô nghĩa”. Thật là thiển cận.
Về mặt khoa học, đứng trước một hiện tượng đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức đều cần tìm rõ căn nguyên sâu xa làm nó nảy sinh và những tác động đến cuộc sống. Trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp để thúc đẩy hiện tượng (nếu nó là hiện tượng tốt), hoặc ngăn chăn, diệt trừ (nếu là hiện tượng xấu). Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một phận cán bộ, đảng viên là một hiện tượng xấu, mà căn nguyên của nó được Đảng Cộng sản chỉ ra chủ yếu là từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cá nhân và tổ chức đảng các cấp chưa có biện pháp đủ mạnh, hữu hiệu để ngăn chặn, loại trừ, nên nó đã để lại những hệ lụy khó lường. Vì thế hiện tượng xấu này nhất thiết cần phải loại bỏ. Để làm được điều này, Trung ương Đảng đã đề ra 04 nhóm giải pháp nêu trên; qua đó làm cho mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải làm tốt chức năng, chức trách nhiệm vụ theo quy định; thấy rõ trách nhiệm đối với Đảng, đất nước và chính mình để không ngừng học tập, rèn luyện, tự phê bình và phê bình, kiên quyết loại trừ những hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, loại trừ những hệ lụy xấu do nó để lại. Như vậy, nội dung các giải pháp đồng bộ này đã thấm đẫm tính khoa học.
Về thực tiễn, cuộc đấu tranh này là hết sức gian khổ, diễn ra trong từng con người và tổ chức cụ thể, liên quan đến sinh mệnh chính trị của từng cá nhân, gia đình và tổ chức và sự phát triển của đất nước. Vì vậy, phải được làm hết sức cẩn trọng với những hệ thống giải pháp đồng bộ, để vừa cảnh báo, bảo vệ, vừa loại trừ những tác động xấu đến chính cán bộ, đảng viên, gia đình họ và những hệ lụy xấu tác động đến đời sống chính trị - xã hội của đất nước.

Thế mà Nguyễn Quang A “không biết”. Vì thiển cận, nên ông ta không xứng với học vị tiến sĩ./. 

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - "Nấm độc"

  Nấm độc sinh ra trong một gia đình không có gì sáng sủa về lai lịch, có ông Nội, Ông ngoại đều là thành phần phải tập trung cải tạo sau năm 1975. Bố đẻ của Nấm là Nguyễn Ngọc Anh cũng từng ăn cơm tù hơn một tháng. Tuy nhiên, Nấm sinh ra và lớn lên trong một chế độ xã hội tốt đẹp, được thụ hưởng đầy đủ mọi quyền và lợi ích của công dân, bình đẳng trước pháp luật và được theo học chuyên ngành Anh ngữ tại Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Tưởng rằng, sau khi ra trường Nấm sẽ mang kiến thức đó để giúp ích cho đời, với hy vọng có nhiều đóng góp tích cực cho xã hội. Ngược lại, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã hóa thân thành Nấm độc, mang bút danh Mẹ Nấm và blogger Mẹ Nấm đã tỏ rõ tư tưởng công khai chống phá chế độ quyết liệt, từng nhiều lần bị các cơ quan chức năng xử lý bằng các hình thức khác nhau nhưng đối tượng này không hề hối cải mà ngày càng lún sâu vào con đường bí ổi, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. 
Nổi bật là, từ tháng 3-2009, Nấm độc bắt đầu tham gia tổ chức phản động “Người Việt yêu nước” và hăng hái viết bài trên blog Mẹ Nấm, nhận tiền từ tổ chức khủng bố “Việt Tân” để tuyên truyền phản đối dự án bô-xít Tây Nguyên, đã bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Khánh Hòa bắt, tạm giữ hình sự về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước. Sau 9 ngày tạm giữ được trả tự do, Nấm lại núp dưới vỏ bọc “đấu tranh nhân quyền”, gia nhập vào các hội, nhóm hoạt động trái pháp luật, như: nhóm “Tuyên bố công dân tự do”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”, hung hăng kêu gọi tụ tập, kích động biểu tình gây rối an ninh, trật tự trên địa bàn cư trú (tỉnh Khánh Hòa) và mở rộng phạm vi trong cả nước dưới danh nghĩa “dã ngoại nhân quyền”, “cafe nhân quyền”, “biểu tình chống Trung Quốc”, đòi trả tự do cho số bị bắt,… Vì thế, ngày 22-5-2013, Nấm độc đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Ngày 19-4-2014, Nấm tiếp tục bị xử phạt về hành vi “gây rối trật tự công cộng”. 
Mang trong mình bản tính khó giời, nhiều năm gần đây, Nấm độc đã soạn thảo hơn 400 bài viết trên Facebook, blog có nội dung xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các tổ chức bộ máy công quyền, làm phương hại đến uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động nhân dân chống lại chính quyền. 
Đáng chú ý là tập tài liệu “Stop police killing civilians - SKC”, tạm dịch (dừng ngay việc công an giết dân), nội dung tập hợp 31 trường hợp người dân bị chết trong quá trình làm việc, tạm giam, tạm giữ, cải tạo tại cơ quan Công an. Cho dù, sự việc này đã được kết luận rõ nguyên nhân, không liên quan trách nhiệm của công an, nhưng với cách “đặt tiêu đề” đầy dụng ý, nhằm mục đích phục vụ cho “dự án” chống tra tấn, bạo hành, Nấm độc đã cố tình đánh tráo bản chất sự việc, khiến người đọc hiểu sai vấn đề. Đây là việc làm có chủ đích, mang quan điểm, lập trường rất thù địch gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Chứng cứ hoạt động chống đối chế độ của Nấm độc đã quá rõ ràng, việc Công an tỉnh Khánh Hòa tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét đối với Nấm độc - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là điều không thể tránh khỏi.
Sau khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - Nấm độc bị bắt (10-10-2016), một số ít đồng bọn yêu quý Nấm cũng chỉ đưa ra những lập luận bưng quơ, như: Nấm chỉ là người bất đồng chính kiến, đấu tranh ôn hoà, chống Trung Quốc, chống Formosa, đòi trả tự do cho “tù nhân lương tâm”, bảo vệ quyền lợi cho “dân oan”,… nên không đáng bị bắt. Có thể khẳng định rằng, đó là một thứ lập luận nhàm chán của làng “dân chủ” để lòe bịp dư luận với hy vọng có vài lời phát ngôn cầu cứu tù mù từ các đám “chính trị gia phương Tây” mà thôi. Còn lại phần đông đám “dân chủ” này cũng đã coi đây là dịp tốt để giúp chúng đoàn kết hơn! Nếu công an không bắt, để Nấm độc ở ngoài thì chắc chắn “phong trào dân chủ” suốt ngày cấu xé lẫn nhau. Thực tế lâu nay, Nấm độc đã bị đồng bọn cô lập, bè đảng Việt Tân tẩy chay, những tín đồ bảo vệ hình ảnh “các nhà dân chủ” đã xa lánh Nấm độc như “con quỷ dữ”. Vì thế, Nấm độc làm gì có ảnh hưởng tới phong trào biểu tình “đấu tranh dân chủ” ?!
Những hành vi hoạt động chống phá của Nấm độc làm cho dư luận hết sức phẫn nộ. Quần chúng nhân đang mong chờ một bản án thích đáng giành cho kẻ phản bội này. Sự nghiêm minh của pháp luật không những sẽ loại trừ được độc tố của Nấm mà còn là lời cảnh tỉnh đối với những kẻ còn ấp ủ tư tưởng phản quốc, hại dân./.

đọc và ngẫm

Trong hàng loạt các bài viết, các lời kêu gọi biểu tình rộ lên trong thời gian qua, các thế lực thù địch với dã tâm của mình đã cổ súy cho bài viết “Hãy bắt đầu phong trào đấu tranh bất bạo động” do Đinh Chỉ Thiên viết và phát tán trên mạng. Khác với những chiêu trò đã trở nên cũ kỹ và khó đánh lừa dư luận, bài viết này lại mượn ngay học thuyết “Bất bạo động” của nhà tư tưởng vĩ đại Ấn Độ Mahatma Gandhi. Tác giả bài viết này, với dụng ý đen tối của mình đã nhập nhèm giữa phong trào “bất bạo động” của nhân dân Ấn Độ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do từ tay thực dân Anh để “mô đi phê” sang cuộc biểu tình để “lật đổ chính quyền” ở Việt Nam. Vậy đâu là chân tướng của cái gọi là đấu tranh bất bạo động?
Khác hẳn về bản chất so với tư tưởng đấu tranh bất bạo động ở Ấn Độ cách đây gần một thế kỷ, ông Chỉ Thiên viết: “Những cuộc biểu tình vừa qua hoàn toàn không có người tổ chức, không có lãnh tụ. Không có tổ chức, không có lãnh tụ mà đồng loạt biểu lộ được ý chí chính là sự thành công của đấu tranh bất bạo động”. Ông Chỉ Thiên không biết hay là ông cố tình ỉm đi việc một số nhân vật bất mãn kêu gọi những người nhẹ dạ, cả tin biểu tình trong thời gian vừa qua. Ông không biết hay là ông “cố tình quên” việc Tổ chức khủng bố Việt Tân đã thừa nhận trên các phương tiện thông tin đại chúng chính tổ chức này là một trong những lực lượng kích động biểu tình trong những ngày qua. Luận điệu của ông Chỉ Thiên chỉ là những lời nói sáo rỗng và bịa đặt, nếu ông cả gan viện dẫn cả thuyết “Bất bạo động” của nhà tư tưởng đáng kính Mahatma Gandhi thì ông nên nhớ rằng chính Gandhi là lãnh tụ của phong trào đòi độc lập ở Ấn Độ và trong quá trình giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc mình, Mahatma Gandhi đã phải tổ chức những phong trào đấu tranh có tổ chức rộng khắp trên đất nước. Nói như vậy để ông hiểu rằng bất cứ một cuộc biểu tình nào dù là hợp pháp hay bất hợp pháp cũng đều phải có người tổ chức và đề ra đường hướng thực hiện. Còn ai là những kẻ đứng đằng sau kích động, xúi giục những cuộc biểu tình trái phép những ngày qua nếu không nói chắc ông và tất cả mọi người đều hiểu!
Ông nói đông, nói tây rồi cuối cùng cũng vẫn là cái mục đích tối tăm: “đòi hỏi cải tổ chính trị”. Cái gọi là đấu tranh bất bạo động mà ông Chỉ Thiên và những đồng bọn của ông mưu toan thực hiện ở Việt Nam thực chất chỉ là tên gọi khác của “cách mạng Hoa nhài”, “mùa xuân Ả rập” ở Tuynidi, Ai Cập, Libi, Xyri, Yêmen, “Cách mạng Hoa hồng” ở Gruzia, “Cách mạng Cam” ở Ukraina. Và thực tế tình hình thế giới hiện nay mọi người dân có lương tri trên thế giới và đông đảo nhân dân Việt Nam cũng đã hiểu, việc lựa chọn giữa một bên là hòa bình, độc lập, tự do với một bên là cảnh “nồi da xáo thịt” mới là sự lựa chọn khó khăn chứ nó không chỉ đơn giản là vẽ ra một con đường trên giấy rồi lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin chạy theo như những luận điệu của ông Chỉ Thiên.
Ông Chỉ Thiên còn viết: “Điều có thể làm được hiện nay là mỗi người, với phương tiện sẵn có, đánh động vào sự thờ ơ cố hữu của quần chúng”. Đồng bào mình, nhân dân mình mà ông dám nói đến “sự thờ ơ cố hữu” thì quả thật ông không xứng đáng được đứng trên mảnh đất này. Nhân dân Việt Nam yêu nước chưa bao giờ thờ ơ, họ biết vui trong niềm vui của dân tộc, biết buồn, biết xót xa khi bờ biển của mình bị ô nhiễm, họ căm thù và dũng cảm cầm súng đứng lên đánh đuổi quân thù xâm lược thì họ phải là nhân dân anh hùng của một dân tộc anh hùng chứ sao lại “thờ ơ cố hữu”.
Tóm lại, không chỉ thời gian gần đây một số phần tử cơ hội, thù địch, mới nói đến “con đường đấu tranh bất bạo động” mà lâu nay các diễn đàn “dân chủ” đã kích động, kêu gọi về con đường đấu tranh “bất bạo động”. Đây là những âm mưu hết sức thâm độc, là sự tiếp tay, tiếp sức của các lực lượng thù địch, phản động. Vì vậy, cần nhận diện đúng bản chất thực sự của cái gọi là đấu tranh “bất bạo động”./. (ST)