Hiển thị các bài đăng có nhãn tội ác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tội ác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

“Mạo danh trên không gian mạng” - Chiêu trò nham hiểm hơn cả một hành động tội ác!


                                                             Chu Quốc
Thời gian gần đây, nhận thấy không còn mấy hiệu quả với những chiêu thức quen thuộc như trực tiếp viết bài, tán phát các thông tin, tài liệu có tính chất bịa đặt, xuyên tạc…, các thế lực thù địch ở cả trong và ngoài nước đã chuyển sang thực hiện một chiêu trò mới, đó là giả mạo tên tuổi, thậm chí cả hình ảnh, chữ ký của các lão thành cách mạng, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đã nghỉ hưu, trong đó có cả những tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Quân đội để gửi đơn, thư tố cáo, hoặc viết bài xuyên tạc, rồi tán phát trên mạng internet nhằm hạ thấp uy tín cán bộ cao cấp của Đảng trong Quân đội; kích động, gây hoang mang dư luận, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đất nước ta… Đây là chiêu trò hết sức đê tiện, nhưng rất tinh vi, “nham hiểm hơn cả một hành động tội ác” của các thế lực thù địch, bởi nó không chỉ gây phương hại cho người bị mạo danh là các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, lão thành cách mạng, mà còn gây ra sự hoang mang, nghi ngờ lẫn nhau trong nội bộ Quân đội và trong nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Quân đội. Vấn đề đặt ra là: tại sao gần đây các thế lực thù địch, phản động lại quay sang sử dụng chiêu trò này để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam?

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954 SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHẾ ĐỘ THỰC DÂN



Thi Sử

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch điển hình trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về nhân dân Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954



                                               Quang Trí

          Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chiến thắng này góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, góp phần quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

NHẬN DIỆN HÀNH VI XUYÊN TẠC CỦA TỔ CHỨC "ÂN XÁ QUỐC TẾ"




                                                                                     Hiếu Văn
Với xu thế của thế giới ngày nay là hòa bình, hợp tác và phát triển, thì vẫn có những tổ chức lợi dụng chiêu bài “dân chủ:, “nhân quyền như tổ chức “Ân xá quốc tế” can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia có độc lập, chủ quyền trên thế giới. Tổ chức “Ân xá quốc tế” nhận thấy có nhiều người không hoạt động chính trị mà tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật khác mà bị bắt, tù đày vì thế tổ chức “Ân xá quốc tế” nghĩ ra khái niệm mới là “Tù nhân lương tâm”.

Đối với Việt Nam, cách cư xử của tổ chức “Ân xá quốc tế” cũng không phải là ngoại lệ. Họ ra các văn bản như tuyên bố, phúc trình, báo cáo… cũng lớn tiếng vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Do vậy khái niệm “tù nhân lương tâm” được sử dụng là cơ sở pháp lý nhằm biện hộ cho một số đối tượng vi phạm pháp luật ở Việt Nam đã bị các cơ quan chức năng và tòa án nhân dân xét xử, tuyên án với các tội danh cụ thể chiểu theo luật pháp của Việt Nam. Các cơ quan chức năng và các phương tiện truyền thông của Việt Nam đã nhiều lần khẳng định: Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có người vì bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ và cũng như các quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam mọi hoạt động vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật.
Từ hàng chục năm nay tổ chức “Ân xá quốc tế” lên tiếng bênh vực một số trường hợp theo cách gọi của họ là “tù nhân lương tâm”, như: Thích Quảng Độ, Nguyễn Đan Quế, Lê Công Định, Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải… Các đối tượng này do vi phạm pháp luật, có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước nên bị tòa án xét xử, tuyên án, trong đó có một số đối tượng sau khi được khoan hồng nhà nước ta đã đi định cư ở nước ngoài thì “lương tâm biến mất”, “tinh thần đấu tranh” vốn trước đó được tổ chức “Ân xá quốc tế” khích lệ, bảo vệ cũng không còn.


Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

TỘI ÁC TÀY TRỜI CỦA TẬP ĐOÀN POL POT GÂY RA CHO VIỆT NAM


Ngay từ năm 1963, sau khi nắm quyền trong Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, Pol Pot đã bắt đầu có thái độ, hành động thù địch đối với Việt Nam và những người cộng sản Campuchia trung kiên. Chúng ngấm ngầm tuyên truyền Việt Nam đã phản bội Campuchia khi ký Hiệp định Geneve 1954 và cho lưu hành hơn 10 văn kiện phê phán Đảng Lao động Việt Nam khi Việt Nam không tán thành “đường lối cách mạng mạo hiểm” của Pol Pot…
Năm 1966, Pol Pot rút cơ quan đại diện bên cạnh Trung ương Cục miền Nam về nước và từ đó, quan hệ của Đảng ta với Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia càng có nhiều trắc trở. Trong thời kỳ này, ở vùng Đông Bắc và Đông Campuchia, chính quyền Vương quốc thỏa thuận cho Việt Nam đặt hậu cứ, kho tàng, trạm cứu thương… Lợi dụng điều kiện vùng hành lang là khu vực rừng rậm, binh lính Pol Pot lúc thì công khai, lúc thì đóng giả làm lực lượng của các phe nhóm khác, đã cướp kho tàng, phục kích các nhóm hành quân lẻ của bộ đội Việt Nam.
Từ năm 1970 đến 1973, khi bộ đội Việt Nam tập trung lực lượng đánh Mỹ và tay sai ở chiến trường Campuchia thì lính Pol Pot đã gây ra 174 vụ khiêu khích, tập kích các hậu cứ, cướp vũ khí, lương thực, giết hơn 600 cán bộ và chiến sĩ Việt Nam. Năm 1972, Pol Pot công khai đề nghị Việt Nam rút quân về nước và có hành động xua đuổi Việt kiều trong vùng vừa giải phóng. Khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết tháng 1-1973, Pol Pot cho rằng việc ký hiệp định là sự phản bội của Việt Nam với cách mạng Đông Dương và cho cấp dưới tuyên truyền, tổ chức các cuộc biểu tình phản đối lực lượng Việt Nam đứng chân ở Campuchia.
Trước thái độ thù địch của Pol Pot, tháng 7-1970, trong bức thư gửi cho Trung ương Cục miền Nam, Tổng Bí thư Lê Duẩn viết: “Với Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, chúng ta cần tìm ra mọi cách tăng cường quan hệ, từng bước tạo ra sự nhất trí về đường lối, chủ trương, đồng thời giúp bạn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trên bước đường cùng tiến lên của cách mạng, không tránh khỏi những sự khác nhau giữa ta và bạn. Nhưng với đường lối đúng đắn, với tinh thần quốc tế chân chính, với thái độ chân thành, tôn trọng bạn… sẽ xây dựng được tình đoàn kết chiến đấu ngày càng sâu sắc giữa hai Đảng, nhân dân hai nước”(1).
Tuy nhiên, trái với hy vọng của chúng ta, cách mạng Campuchia càng đến gần thắng lợi thì Pol Pot càng ráo riết chuẩn bị kế hoạch chống phá Việt Nam và tiêu diệt lực lượng yêu nước chân chính Campuchia. Ngay sau khi cách mạng hai nước giành thắng lợi (tháng 4-1975), ngày 1-5-1975, tập đoàn Pol Pot đã cho quân xâm phạm nhiều nơi thuộc lãnh thổ Việt Nam từ Hà Tiên đến Tây Ninh; tiếp đó đánh chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, triệt phá làng mạc, bắn giết nhiều người dân và bắt đưa đi 515 người khác.
Sau những sự kiện nghiêm trọng trên, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn bày tỏ mong muốn hai nước Việt Nam và Campuchia đàm phán ký kết hiệp ước về biên giới giữa hai nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tiếp tục đoàn kết và tăng cường tình nghĩa anh em giữa nhân dân hai nước. Song, do bản chất dân tộc cực đoan, tập đoàn Pol Pot được sự hậu thuẫn bên ngoài tiếp tục có nhiều hành động thù địch chống Việt Nam. Chỉ trong mấy tháng cuối năm 1975 và đầu năm 1976, quân Pol Pot liên tiếp gây ra hơn 250 vụ xâm phạm lãnh thổ, cướp thóc gạo, trâu, bò, tàn sát nhiều người dân Việt Nam.
Từ đầu năm 1977, quân Pol Pot lại mở cuộc tiến công vào các đồn biên phòng Việt Nam ở Bu Prăng (Đắc Lắc), vùng Mỏ Vẹt (Long An) và một số nơi ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang. Nghiêm trọng nhất là từ ngày 30-4 đến 19-5-1977, Pol Pot sử dụng lực lượng quy mô sư đoàn tiến công sang đất Việt Nam trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang, giết hại 222 người, làm bị thương 614 người, bắt đi 10 người, đốt cháy 552 nhà dân, cướp 134 tấn lúa, phá hoại hàng trăm héc-ta lúa đang đến mùa gặt; cướp phá nhiều tài sản của nhân dân...(2).
Tháng 6-1977, lãnh đạo Khmer Đỏ ra nghị quyết coi Việt Nam “là kẻ thù số một, kẻ thù vĩnh cửu” của Campuchia và từ đây, chúng ngang nhiên mở rộng xung đột thành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mấy tháng cuối năm 1977, quân Pol Pot mở nhiều cuộc tiến công lớn sang Việt Nam trên tuyến biên giới từ Kiên Giang đến Tây Ninh. Riêng tại xã Tân Lập (Tân Biên, Tây Ninh), ngày 25-9-1977, quân Pol Pot đã đốt cháy 400 nóc nhà, giết hơn 1.000 dân thường.

Sau khi bị bộ đội Việt Nam mở đòn tiến công trừng trị hành động xâm lược trên tuyến biên giới, ngày 31-12-1977, tập đoàn Pol Pot đã đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Từ đây, chúng công khai tuyên truyền vu khống Việt Nam, coi Việt Nam là mối đe dọa đối với Campuchia, gắn quá trình phản bội và xâm lược Việt Nam với các cuộc thanh trừng các lực lượng chân chính trong nước.
Chúng ráo riết xây dựng thêm các sư đoàn chiến đấu, đồng thời tập trung 13/18 sư đoàn bộ binh áp sát biên giới Việt Nam, tiến hành khiêu khích, thăm dò, chuẩn bị những cuộc tiến công xâm lược mới. Liên tiếp trong các tháng đầu năm 1978, Pol Pot sử dụng 5 sư đoàn chủ lực cùng 5 trung đoàn địa phương, có pháo binh yểm trợ, luân phiên đánh vào sâu lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, tại xã Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang), cách đường biên giới Việt Nam-Campuchia 7km, ngày 18-4-1977, lính Pol Pot đã dồn người dân hiền lành để bắn, giết tập thể bằng những hành động vô cùng dã man, giết hại 3.157 người, phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em, trong đó có hơn 100 gia đình bị giết cả nhà.
Tính từ tháng 5-1975 đến giữa năm 1978, quân Pol Pot đã giết hại hơn 5.000 dân thường Việt Nam, làm bị thương gần 5.000 người, bắt và đưa đi hơn 20.000 người; hàng nghìn trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, nhà thờ, chùa chiền bị đốt phá, trâu, bò bị cướp, giết, hoa màu bị phá hoại; hàng vạn héc-ta ruộng đất và đồn điền cao su ở vùng biên giới Tây Nam Việt Nam bị bỏ hoang; khoảng nửa triệu dân sát biên giới với Campuchia phải bỏ nhà, bỏ đất, bỏ ruộng chạy sâu vào nội địa(3).
Hậu quả mà Pol Pot gây ra cho nhân dân Việt Nam là hết sức to lớn, trong khi nguy cơ diệt vong của dân tộc Campuchia dưới chế độ diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pol Pot đã đến mức nguy kịch. Những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pol Pot là không thể dung tha. Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng và thiêng liêng của mình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; đồng thời cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, giúp đỡ những người cách mạng chân chính Campuchia làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 234-235.
(2) Số liệu về quân đội Campuchia vi phạm biên giới Việt Nam từ năm 1975, Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông 82, Đơn vị bảo quản 2325.
(3) Báo cáo về việc lực lượng vũ trang Campuchia tấn công ta ở biên giới, Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 1172.