Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 


Báo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. đó là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới, cùng những dự báo về tương lai.

Hệ thống kiến thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Nếu mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân đều được học tập và chịu khó học tập không ngừng để quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong hoạt động thực tiễn sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản, không bị hoang mang, dao động trước những nội dung tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch, vững tin trong mọi hoạt động vì lợi ích chính đáng của Nhân dân, bằng những giải pháp có hiệu quả và gặt hái được nhiều thành công, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Tuy vậy, trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra rất nhanh chóng, với sự phát triển siêu tốc của Internet, mạng xã hội,... tạo nên “thể giới phẳng”, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Với thủ đoạn đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác  - Lê-nin. Chúng đưa ra những quan điểm giả danh mác-xít, hoặc diễn giải lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Chúng xuyên tạc tình hình đất nước, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng, tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh chống âm mưu phá hoại của kẻ thù chúng ta cần thực hiện đồng bộ, nhất quán một số vấn đề:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.    

Hai là, luôn bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân.  Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng, phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị.

Phụ nữ Quân đội với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Gần tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh  và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nhiều chiến công vang dội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những chiến công ấy, có sự đóng góp rất quan trọng của phụ nữ Quân đội (PNQĐ).

Mấy năm gần đây, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu. Trên mặt trận  này, PNQĐ đã có những phương thức tác chiến phù hợp, mang lại hiệu quả thiết thực.

Ngay sau khi Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Quyết định số 169-QĐ/TW, ngày 07/01/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Ban Bí thư ra Kế hoạch số 53-KH/TW, ngày 25/3/2019 về thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,… Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 701-QĐ/QUTW, ngày 14/7/2019 về thành lập Ban Chỉ đạo Quân ủy Trung ương về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chỉ đạo thống nhất trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo, bộ phận giúp việc các cấp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng Quy chế, bảo đảm trang thiết bị hoạt động, hoàn thiện các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ Quân đội quán triệt, ra nghị quyết chuyên đề, xây dựng kế hoạch thực hiện; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, tạo mạng lưới sâu rộng đấu tranh kiên quyết với mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Qua đó, thống nhất về mặt tư tưởng, định hướng hoạt động, xây dựng quyết tâm, chỉ đạo thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả”. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, Ban Chỉ đạo 35 các cấp tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này; đồng thời, chấn chỉnh nơi làm chưa tốt, trách nhiệm chưa cao, còn biểu hiện hình thức, đối phó, chưa mang lại hiệu quả thiết thực.

                Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục Chính trị và Ban chỉ đạo 35 Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị,  Ban Phụ nữ Quân đội đã nghiên cứu, ban hành các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn các tổ chức Hội phụ nữ trong quân đội có phương thức đấu tranh phù hợp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Ban PNQĐ và các phòng (ban) công tác quần chúng, ban phụ nữ, Hội phụ nữ các cấp đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan tuyên huấn, bảo vệ an ninh, dân vận... tổ chức lực lượng nghiên cứu, thu thập, xử lý, cung cấp thông tin thuộc bộ phận chuyên sâu các cấp; kết hợp khai thác nguồn tin ở đơn vị, địa phương, cơ sở, kịp thời nắm, đánh giá, dự báo tình hình, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trọng tâm là những thủ đoạn mới, các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ quyền biên giới, biển, đảo; dân tộc, tôn giáo; dân chủ, nhân quyền, môi trường, dân sinh; các thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị cho các hội viên phụ nữ, nhất là việc  định hướng tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về đối tượng, đối tác; bản chất, truyền thống lịch sử, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm từ những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,... nhằm thống nhất nhận thức, chỉ đạo hành động cho cán bộ,  hội viên phụ nữ trong toàn quân.

 Hội phụ nữ các cấp trong quân đội đã tổ chức các nhóm, các hội viên trực tiếp  đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội. Việc đấu tranh đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tiễn đơn vị. Lực lượng này được phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương, nhất là Báo  Quân đội nhân dân,  góp phần tạo sự đồng thuận trong toàn quân và toàn xã hội, sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” của cán bộ, chiến sĩ, hội viên trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Một số hội viên đã cộng tác tích cực với  các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ban PNQĐ cũng đã bám sát các sự kiện chính trị, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để đặt các  bài viết chuyên sâu, tài liệu chuyên khảo, thông tin định hướng, mời các  chuyên gia, nhà khoa học đến nói chuyện chuyên đề về đấu tranh chống các  quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ban PNQĐ,  các phòng (ban) quần chúng, các Hội Phụ nữ các cấp hằng năm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đều đã lồng ghép nội dung về kỹ năng viết bài, tuyên truyền đấu tranh  chống các quan điểm sai trái,  bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đưa nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào nội dung giáo dục chính trị, thông báo thời sự cho các đối tượng; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong Quân đội.

Từ thực tiễn PNQĐ tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng tôi đã đúc rút ra các bài học kinh nghiệm:

  Một là,  để tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Ban PNQĐ và đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, kịp thời tham mưu, đề xuất với QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp ban hành các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng các chương trình, nội dung, biện pháp, chế độ, chính sách cụ thể để triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả công tác phụ nữ, phong trào thi đua của phụ nữ gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng của mỗi cơ quan, đơn vị và toàn quân; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, xây dựng người PNQĐ phát triển toàn diện. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, khơi dậy khát vọng cống hiến và nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong mỗi cán bộ, hội viên. Tiếp tục nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay, những gương phụ nữ điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực công tác, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, toàn quốc, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Hai là, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, trước hết nội bộ các cơ quan, đơn vị, các tổ chức hội phụ nữ  phải ổn định, tư tưởng phải thông suốt, có sự đồng thuận từ trên xuống dưới, nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, toàn quân cần làm tốt công tác quản lý, lãnh đạo, định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin, trao đổi nghiệp vụ, đảm bảo công tác tư tưởng phải đi trước một bước, làm cho bộ đội nắm vững đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của Quân đội, đối tượng, đối tác, mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp; tổ chức trao đổi, đối thoại với những cá nhân có nhận thức khác với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội tạo sự nhất trí, đồng thuận, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tình hình nội bộ; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; chủ động nắm, quản lý, đánh giá tình hình tư tưởng, định hướng cho bộ đội, không để bị động, bất ngờ.  

Ba là,  để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng  trong Quân đội, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Quân đội với cơ quan tuyên giáo, công an, Hội đồng Lý luận Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, đoàn thể chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Xây dựng chương trình, quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm, chức năng của từng lực lượng và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Định kỳ trong từng thời gian, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh, xác định phương phướng phối hợp hoạt động trong thời gian tới, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang lại hiệu quả thiết thực.

Bốn là, cần phát huy vai trò PNQĐ tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Muốn vậy cần tăng cường bồi dưỡng cho những hội viên nòng cốt. Các cấp hội phải đưa nội dung đấu tranh chống quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nội dung sinh hoạt, chú trọng những vấn đề liên quan đến quân đội, PNQĐ như bình đẳng giới, chế độ chính sách đối với nữ quân nhân…,   góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. 

Dự báo trong thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song dự báo tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, chúng ta vẫn phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức rất lớn, nhất là thách thức của an ninh phi truyền thống; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”... Tình hình đó đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Các thế lực thù địch sẽ tiếp tục điên cuồng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng,   phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”; “Chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với hiện thực Việt Nam”, v.v. Không những thế, họ sẽ  còn công kích, đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc con đường phát triển của dân tộc đã được Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn… Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Về thực chất của mưu đồ này là lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho Quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, phai nhạt về lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về mặt tổ chức và bị vô hiệu hóa, không còn sức mạnh, công cụ bạo lực trung thành để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Sự chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, với mưu đồ ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó đoán định cho đến khi họ đạt được mục tiêu làm mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Bởi vậy, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng; là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Trong đó PNQĐ với chức năng, nhiệm vụ của mình phải xác định là một trong những lực lượng quan trọng.  Các cấp hội PNQĐ và bản thân từng hội viên  cần phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đánh bại những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để tham gia hiệu quả trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Ban PNQĐ, các phòng (ban) công tác quần chúng, các cấp Hội Phụ nữ và hội viên phụ nữ trong Quân đội cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:

Trước hết, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong PNQĐ đạt mục đích, yêu cầu đề ra.  

Hai là, đẩy mạnh  công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho cán bộ hội viên  về  đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; về đối tượng, đối tác; bản chất, truyền thống lịch sử, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm từ những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, nội bộ các cấp hội,... nhằm thống nhất nhận thức, chỉ đạo hành động cho cán bộ,  hội viên phụ nữ trong từng cơ quan, đơn vị.

 Ba là, tổ chức lực lượng đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội.   Bám sát các sự kiện chính trị, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để chủ động mời các  chuyên gia, nhà khoa học  tuyên truyền, định hướng  tạo điều kiện cho các cán bộ, hội viên đấu tranh trên Internet, mạng xã hội.

          Bốn là, các cấp hội cần chủ động phối hợp với các cấp ủy Đảng, người chỉ huy  tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, không để đột biến xảy ra.   Thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp; tổ chức trao đổi, đối thoại với những cá nhân có nhận thức khác với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội tạo sự nhất trí, đồng thuận, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chống các quan điểm sai trái, thù địch.  

Năm là, cần phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng  trong Quân đội, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Quân đội với cơ quan chức năng của  địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng, đoàn thể chính trị - xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Các cấp hội phụ nữ trong các cơ quan, đơn vị quân đội cần xây dựng chương trình, quy chế hoạt động  với hội phụ nữ địa phương nơi đóng quân  để phối hợp hoạt động, trong đó có các hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Định kỳ trong từng thời gian, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh, xác định phương phướng phối hợp hoạt động trong thời gian tới, đảm bảo cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang lại hiệu quả thiết thực.

Sáu là, tổ chức hội phụ nữ cần tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức hoạt động để tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, động viên hội viên tham gia thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua của Đảng, Nhà nước, quân đội và Trung ương Hội LHPN Việt Nam; đồng thời, tuyên truyền, vận động chị em phụ nữ hưởng ứng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò, vị thế của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực công tác. Đội ngũ cán bộ hội cần thể hiện vai trò đầu tàu gương mẫu, tích cực học tập, trau dồi kỹ năng công tác hội để công tác phụ nữ và phong trào thi đua của phụ nữ ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả thiết thực. Các đồng chí hội viên phụ nữ cần không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống của phụ nữ Việt Nam, PNQĐ; nỗ lực khắc phục khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,  trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Phát huy vai trò của mình, PNQĐ luôn chủ động, cùng với các lực lực khác trong quân đội tiên phong, đi đầu trên mặt trận này, góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.

 

TĂNG CƯỜNG HỌC TẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG NHẰM BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ sự đúng đắn, tính sáng tạo, bản chất cách mạnh, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần tăng cường học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và chỉ đạo thực tiễn để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay, luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Trên cơ sở  đó, Đảng ta đã vận dụng, phát triển sáng tạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần vô giá, cẩm nang thần kỳ bảo đảm vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong hành trình đi tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò hết sức quan trọng, giúp xây dựng nền tảng tư tưởng, nhận thức, nhân sinh quan và thế giới quan của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân nhân, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của mối người trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ngày 9/2/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 23-CT/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Với mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực sự hiệu quả, thiết thực trong việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Giúp cho đội ngũ này thật sự am hiểu và có niềm tin vững chắc vào hệ thống giá trị cách mạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, cần tập trung làm cho các đối tượng nắm vững  ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề Đảng ta vận dụng sáng tạo và phát triển trong lịch sử và trong công cuộc đổi mới hiện nay; kết quả đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để thực hiện nội dung trên cần thực hiện một số biện pháp:

Một là, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn nước ta. Trên nền tảng đó, nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới; làm rõ những vấn đề bổ sung, phát triển; tập trung nghiên cứu để giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta; làm rõ một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn đổi mới, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng, hướng tới mục tiêu người học nhận thức được một cách sâu sắc, căn bản tri thức của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng.phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục đổi mới nội dung giáo trình theo hướng giảng dạy, truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những học thuyết tiến bộ đương đại, vận dụng sáng tạo, tăng cường liên hệ thực tiễn.

Ba là, phải “Xây dựng cho được đội ngũ giáo viên lý luận chính trị thật tâm huyết, yêu nghề, tuyệt đối trung thành, có niềm tin, có kiến thức về các môn học này một cách sâu sắc, cập nhật, gắn với thực tiễn. Đây là nhân tố quyết định sự thành công của việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong nhà trường”. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, người giảng viên phải kiên định lập trường, tư tưởng chính trị; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giảng viên. Thiết kế bài giảng phù hợp trên cơ sở nắm rõ đặc điểm học viên.  Làm rõ những thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa trong giáo trình. Đảm bảo đúng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; gắn liền lý luận với thực tiễn. Sử dụng hiệu quả các phương tiện giảng dạy hiện đại và phương pháp giảng dạy tích cực. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế. Cần kết hợp tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhất là những vấn để thực tiễn đổi mới, hội nhập đang đặt ra. Không để tình trạng bất cập kéo dài giữa lý luận và thực tiễn đổi mới trong một số vấn đề, gây thiếu cơ sở lý luận, thiếu niềm tin khoa học, lúng túng trong hoạt động thực tiễn.

Bốn là, việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Thật sự coi trọng việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc định hướng phát triển và hoạt động thực tiễn ở địa phương, cơ quan, đơn vị một cách thiết thực và hiệu quả; bám sát thực tiễn, định kỳ tiến hành sơ kết, tổng kết, nhân rộng mô hình tốt, cách làm hay. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Ðảng trên lĩnh vực lý luận chính trị.

Năm là, phát huy dân chủ trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; tôn trọng tính sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà khoa học, tăng cường trao đổi, đối thoại trong nghiên cứu lý luận. Ðổi mới cơ chế và tăng cường đầu tư cho tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Rà soát, bổ sung, sửa đổi chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

NỘI DUNG “NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN” - LUẬN THUYẾT PHI NHÂN QUYỀN

 


Những năm gần đây, các thế lực hiếu chiến với luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” đã sử dụng sức mạnh “đồng minh”, tự khoác cho mình là người “đại diện cộng đồng quốc tế”, trên danh nghĩa của một tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh - Liên hợp quốc, ngang nhiên tiến công vũ trang chống các quốc gia độc lập có chủ quyền. Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập (1949 - 1999), NATO do Hoa Kỳ đứng đầu phát động cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tư với danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền”, không cần sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bằng cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tư, NATO mở đầu “cuộc thập tự chinh” của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI. Năm 2001, Hoa Kỳ tập hợp lực lượng liên quân của 43 quốc gia do NATO làm nòng cốt phát động cuộc chiến tranh mang tên “Tự do bền vững” tại Afghanistan chống lại Phong trào Taliban mà Washington cho là chứa chấp trùm khủng bố Osma Bin Laden - chủ mưu gây ra vụ tấn công ngày 11/09/2001. Sau gần 20 năm, người dân quốc gia Trung Á này vẫn chưa được tự do, còn chiến sự vẫn diễn ra hằng ngày. Tiếp theo cuộc chiến ở Afghanistan, năm 2003, Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tranh với sứ mệnh được tuyên bố là “Tự do cho Iraq” mượn cớ “giải giáp vũ khí hóa học” - một cuộc chiến không chỉ bị Nga và Trung Quốc mà cả các đồng minh của Mỹ trong NATO là Pháp và Đức phản đối. Đến nay, Mỹ vẫn bị sa lầy tại đây. Đầu tháng 5/2008, NATO do Mỹ đứng đầu đã trang bị và huấn luyện cho Quân đội Gruzia tiến hành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” nhằm vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga ở Nam Osetia. Trong cuộc chiến này, Gruzia đã bị Nga đánh trả và thất bại thảm hại - dấu hiệu về sự sụp đổ vị thế của Mỹ và sự trỗi dậy của nước Nga sau Chiến tranh lạnh. Năm 2011, Hoa Kỳ đứng đầu NATO kích động các biến động chính trị mang tên “Mùa Xuân Arab” ở Trung Đông - Bắc Phi, dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược Libya mang tên “Bình minh Odyssey” tiêu diệt nhà lãnh đạo M. Gaddafi. “Mùa Xuân Arab” còn dẫn tới cuộc chiến tranh Syria kéo dài tới nay chưa có hồi kết và được giới phân tích đánh giá như “cuộc chiến tranh thế giới thu nhỏ” với sự tham gia của lực lượng đến từ gần 90 quốc gia hay cuộc chiến tranh ở Mali (2012), Yemen (2015) và hàng loạt các cuộc chính biến làm suy yếu các nước Trung Đông - Bắc Phi những ví dụ điển hình về một liên minh đế quốc khổng lồ triển khai luận thuyết đó trên thực tế. Những chiếc áo “đạo đức”, những lý do “nhân đạo”, “nhân quyền” được chúng tung ra hòng che lấp bản chất phản nhân đạo, phi nhân quyền của cuộc chiến tranh do chúng phát động. Luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, cho đến hiện nay, xem ra vẫn là một “bảo bối” được các thế lực phản động, hiếu chiến thường xuyên sử dụng để đe doạ, can thiệp và tiến công một quốc gia dân tộc nào đó mà chúng cho là “vi phạm nhân quyền”.  Vì thế, hơn lúc nào hết, các quốc gia dân tộc cần phải nêu cao cảnh giác, vạch rõ thực chất của luận thuyết này là gì, tính chất phản động về chính trị và phản khoa học của nó như thế nào, để không những làm cơ sở động viên sức mạnh toàn dân tộc, nêu cao ý chí quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của mình; mà còn là cơ sở cho việc tạo lập một mặt trận rộng rãi chống đế quốc của cộng đồng quốc tế. 

Thứ nhất, nhân quyền là quyền con người và quyền con người ấy bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với quyền thiêng liêng của cả dân tộc.

Mọi sự tách ra, hoặc đối lập quyền của con người với quyền của quốc gia dân tộc đều là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hại. Không phải ngẫu nhiên khi đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn ra những mệnh đề bất hủ về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, và gắn quyền con người đã được tuyên bố ấy với quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[1]. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, cũng như tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho con người và cho các dân tộc những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh cần phải được lý giải thêm là: không thể có được quyền con người đầy đủ, không thể có nhân quyền nếu như Tổ quốc không có độc lập tự do, nếu nhân dân lao động bị các thế lực thực dân, đế quốc bóc lột, dày xéo như kiếp “ngựa trâu”; muốn có nhân quyền thực sự thì vấn đề quyết định trước hết là phải giành cho được độc lập, tự do. Làm cách mạng để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì đồng thời cũng đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội là đưa nhân dân lao động lên làm chủ và đứng ra cai quản, tổ chức xây dựng xã hội mới, xây dựng, phát triển và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, là làm cho mỗi người và cả dân tộc đều “sung sướng” và “tự do”.

Sự thống nhất, gắn bó giữa quyền con người và quyền dân tộc đã được “Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền” của Liên hợp quốc năm 1948 khẳng định và tiếp tục được nhấn mạnh trong nhiều tuyên ngôn, công ước sau đó. Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 cam kết tôn trọng và đảm bảo quyền của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, dân tộc; đồng thời cũng nhấn mạnh, tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.

Nhân quyền là một giá trị cao quý của nhân loại đã được thừa nhận; quyền độc lập, tự do của các quốc gia dân tộc là một giá trị thiêng liêng đã được cả thế giới ghi nhận; sự thống nhất và gắn bó giữa quyền con người và quyền dân tộc là một tất yếu đã được lịch sử xã hội loài người xác thực. Những giá trị cao quý, thiêng liêng được thừa nhận đó không phải do ai “ban cho”, không phải “từ trên trời rơi xuống”, mà là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của các lực lượng cách mạng, hoà bình, của nhân loại tiến bộ, của các quốc gia dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Con người bao giờ cũng sống  trong một cộng đồng người nhất định; khi dân tộc xuất hiện thì con người sống trong và gắn bó với cộng đồng dân tộc, mang tâm hồn, cốt cách của dân tộc đó, có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ sự tồn tại, phát triển của dân tộc. Không thể tách và đối lập quyền con người với quyền dân tộc, cũng không thể mượn cớ “vì nhân quyền”, vì quyền con người để xâm phạm độc lập chủ quyền của các quốc gia dân tộc. Vì thế, luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, từ trong bản chất đã là một luận thuyết sai lầm và phản động, thực chất là nhằm biện minh cho những hành động xâm lược, phi nhân tính của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực hiếu chiến.

Thứ hai, những kẻ rêu rao “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không biên giới”.

Chúng cho rằng “cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ một quốc gia dân tộc để bảo vệ nhân quyền”, có thực sự vì nhân quyền hay không? Câu trả lời ở đây rõ ràng không phải là vì nhân quyền, không phải là để “bảo vệ nhân quyền” như chúng đã từng tuyên bố. Chính nhà báo - nhà văn nổi tiếng người Mỹ, Uy-li-am Blum, trong cuốn sách “Nhà nước đỏ: Đường lối siêu cường duy nhất của thế giới”, đã “trả lời giúp”: Kể từ năm 1945 Mỹ đã toan tính lật đổ 40 chính phủ, đàn áp hơn 30 phong trào quốc gia, làm cho hàng chục triệu người chết, gây ra biết bao cảnh tang tóc cho các dân tộc. Trong các cuộc chiến tranh, Mỹ đã nhẫn tâm sử dụng cả những loại vũ khí đã bị Liên hợp quốc cấm, như ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hi- rô- si- ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản năm 1945, giết hại cùng một lúc hàng chục vạn người dân vô tội; sử dụng vũ khí hoá học và chất độc da cam/đi-ô-xin trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên và Việt Nam.

Để tiến công Nam Tư và Irắc, chủ nghĩa đế quốc đã rêu rao tổng thống và chính phủ của những nước này là “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp sắc tộc”, là “độc tài”, cần phải trừng phạt, “để cứu nhân dân thoát khỏi thảm hoạ nhân đạo, nhân quyền”. Thế rồi, bom, đạn, các loại vũ khí công nghệ cao với sức huỷ diệt và sự tàn phá ghê gớm ngày đêm chúng bắn phá, tàn sát các trường học, bệnh viện, khu dân cư, reo rắc sự chết chóc và đau thương cho người dân vô tội, phụ nữ và trẻ em và biết bao gia đình ở những nước này. Bằng hành động chiến tranh xâm lược dã man đó, những kẻ rêu rao “nhân quyền cao hơn chủ quyền” đã tự tước bỏ cái mặt nạ giả nhân, giả nghĩa, lộ rõ nguyên hình là kẻ hiếu chiến. Điều đó không những đã vi phạm một cách trắng trợn độc lập, chủ quyền, quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia dân tộc đã được chính Liên hợp quốc thừa nhận trong các tuyên ngôn và công ước của mình; mà còn vi phạm nghiêm trọng quyền sống và quyền tự do của con người.

Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do của người dân là vô cùng quý giá, độc lập chủ quyền của các quốc gia dân tộc là vô cùng thiêng liêng. Sự vi phạm đó của chủ nghĩa đế quốc đối với những điều quý giá và thiêng liêng ấy là không thể biện minh được, không thể bào chữa được. Không thể áp đặt “giá trị nhân quyền” của mình cho các quốc gia dân tộc khác. Nhân quyền là giá trị nhân loại, nhưng biểu hiện cụ thể trong mỗi quốc gia dân tộc có sự khác nhau. Không ai có thể tự cho mình cái quyền can thiệp, có quyền giải quyết các vấn đề nhân quyền trong nội bộ của các quốc gia khác, càng không thể có quyền thực hiện sự can thiệp đó bằng bom đạn. Sự tự cho đó là trái đạo lý, trái đạo đức, là phản tiến bộ.

Rõ ràng, luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không phải vì nhân quyền nào cả; thực chất đó là cơ sở lý luận cho chính sách hiếu chiến, cường quyền và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, là vì lợi ích chính trị, kinh tế của chúng mà thôi, là sự phản ánh tập trung bản chất phản động, phi nhân quyền, phi đạo lý, phản nhân đạo của các thế lực đế quốc hiếu chiến trong điều kiện lịch sử mới. Chính những hành động dã man, tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đối với nhân dân các quốc gia dân tộc trên thế giới và sự bóc lột đối với chính nhân dân nước mình đã làm lộ rõ tính chất phi nhân quyền của luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Thứ ba, trong bối cảnh lịch sử mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc.

Hiện nay, so sánh lực lượng trên thế giới có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, bất lợi đối với các lực lượng cách mạng, hoà bình và tiến bộ, thì luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà các thế lực hiếu chiến đem ra thực thi trên thực tế càng trở nên nguy hiểm. Tính chất nguy hiểm đó biểu hiện ở chỗ, nó dễ gây nên sự ngộ nhận, sự nhầm lẫn ở một số người trong việc xem xét bản chất chính trị, tính chất của chiến tranh. Bằng sức mạnh kinh tế, quân sự của mình, với sức mạnh và áp lực của liên minh đế quốc khổng lồ, luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” của chủ nghĩa đế quốc có vẻ càng có “sức thuyết phục” hơn. Việc chủ nghĩa đế quốc phát động tiến công xâm lược chống một quốc gia độc lập có chủ quyền nào đó lại có thể bị ngộ nhận đó là hành động vì “hoà bình”, vì sứ mạng cao cả “cứu nhân dân ra khỏi thảm hoạ nhân quyền”; còn các quốc gia dân tộc bị tiến công bị xem là những người tạo ra “nguyên cớ”, là nguyên nhân chủ yếu gây ra chiến tranh. Vì thế, người ta cố tình và ráo riết yêu cầu các quốc gia dân tộc phải “giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền”, nếu không thì sẽ bị cấm vận, phong toả, sẽ bị tiến công bằng quân sự. Tất nhiên, việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền ấy, thậm chí cả những vấn đề nhân sự trong giới lãnh đạo của các nước là phải theo những “giá trị” dân chủ, nhân quyền và lập trường, quan điểm của chủ nghĩa đế quốc, mà trong nhiều trường hợp lại được mượn danh, đại diện cho cả cộng đồng quốc tế, cho Liên hợp quốc.

Tình hình đó làm cho cuộc đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập chủ quyền, bảo vệ những giá trị dân chủ, nhân quyền của mình, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân ở các nước càng trở nên khó khăn, phức tạp. Nếu không vạch rõ tính chất phản động, phản tiến bộ của luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nếu không làm cho nhân dân thấy rõ bản chất phản động, hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc, thấy được tính chất phi nghĩa của cuộc tiến công xâm lược của chúng, thấy được tính chất chính nghĩa cao cả, vì đạo lý của cuộc chiến tranh chống xâm lược của nước mình, thì các quốc gia dân tộc không thể giành được thắng lợi. 

Không thể đối lập nhân quyền với chủ quyền, mượn danh “vì nhân quyền” để xâm phạm chủ quyền, cũng không thể mượn danh “vì chủ quyền” mà vi phạm nhân quyền. Cố tình lợi dụng vấn đề nhân quyền mà vi phạm độc lập chủ quyền của quốc gia dân tộc khác; hoặc cố tình mượn danh nghĩa bảo vệ “lợi ích, chủ quyền quốc gia” ngoài biên giới để đem bom đạn và chết chóc, đau thương cho dân tộc khác, giết hại dân lành của quốc gia khác đều là những hành động phi nhân quyền, phản nhân loại, và nhất định sẽ bị thất bại.

Cho dù luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” có được che dấu kín đáo và tinh vi đến đâu, nhưng chắc chắn rằng, nhân loại tiến bộ sẽ ngày càng nhận rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, càng thấy rõ bản chất hiếu chiến, xâm lược và phản động của chúng và càng đoàn kết hơn trong mặt trận đấu tranh chung chống cường quyền, chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ độc lập chủ quyền và những giá trị nhân quyền đích thực của mình./.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 556


PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, QUÂN ĐỘI THAM GIA ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẨY LÙI CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, SỰ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vừa là mục tiêu, vừa là biện pháp chủ động, thiết thực để lan tỏa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê hương, gia đình, truyền thống anh hùng của Quân đội và phẩm chất cao quý của người quân nhân cách mạng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những quan điểm sai trái, những suy nghĩ, hành động tiêu cực, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của quân nhân và quan trọng hơn là trực tiếp góp phần chống “Chủ nghĩa cá nhân” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là kết tinh những giá trị cao đẹp được hình thành và lan tỏa gắn với lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sinh thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Hình ảnh và tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta”. Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là sự hòa quyện các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam với bản chất cách mạng ở quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng lãnh đạo; là một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

“Chủ nghĩa cá nhân” hay còn gọi là cá nhân chủ nghĩa, chủ nghĩa cá thể là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả một cách nhìn nhận trên phương diện xã hội, chính trị hoặc đạo đức trong đó nhấn mạnh đến lợi ích của mỗi cá nhân, sự độc lập của con người và tầm quan trọng của tự do và tự lực của mỗi cá nhân. Những người theo chủ nghĩa cá nhân chủ trương không hạn chế mục đích và ham muốn cá nhân, họ phản đối sự can thiệp từ bên ngoài - cho dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước hoặc bấy kỳ một nhóm hay thể chế nào khác. Do vậy chủ nghĩa cá nhân đối lập với chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng đồng và cũng đối lập với quan điểm truyền thống, tôn giáo, tức đối lập với bất cứ quan niệm nào cho rằng cần sử dụng các chuẩn mực đạo đức hay luân lý ở bên ngoài, khách thể để hạn chế sự lựa chọn hành động của cá nhân, đồng thời chủ nghĩa cá nhân cũng đối lập đạo đức cách mạng, trái ngược với phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Chủ nghĩa cá nhân là làm việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư, nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”[1]. Cách đây 62 năm, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào tháng 12 năm 1958 đã chỉ ra, muốn xây dựng đội ngũ đảng viên có đạo đức cách mạng, thì phải loại bỏ trong tiềm thức, cách sống hằng ngày của họ là cái tôi “chủ nghĩa cá nhân”. Bởi theo Người “chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[2] Người coi việc chống chủ nghĩa các nhân  là cuộc đấu tranh trực tiếp liên quan tới vận mênh của Đảng và quyết định đén thành công của sự nghiệp cách mạng. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trung ương khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân CB, ĐV thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”.

Hiện nay, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường; đặc biệt là các thế lực thù địch, phản động tiến hành chống phá ngày càng quyết liệt với nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc. Một số cán bộ, đảng viên trong quân đội đã ít nhiều có biểu hiện sa vào “chủ nghĩa cá nhân”, nguy hiểm hơn trong số đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý. Mặc dù số cán bộ, đảng viên này không nhiều, chỉ là những “con sâu bỏ rầu nồi canh” nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, phẩm chất, uy tín Bộ đội Cụ Hồ; là nhân tố gây mất đoàn kết nội bộ và làm giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội. Biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân ở những CB, ĐV Quân đội đó là bản thân thiếu tu dưỡng, rèn luyện, chưa thể hiện được vai trò tin phong, gương mẫu trước tập thể, trước quần chúng, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”, quan liêu, cửa quyền, không sâu sát cơ sở, không nắm chắc tình hình thực tế cơ quan, đơn vị. Thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa, cổ súy cho những gì có lợi cho cá nhân mình, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước, chỉ muốn “mọi người vì mình”. Mắc thói tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, quan liêu, mệnh lệnh, tùy tiện, vô nguyên tắc, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.

Từ việc sa vào chủ nghĩa cá nhân hậu quả là dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “trở cờ”, mất cán bộ. Về nguyên nhân có nhiều yếu tố tác động, nhưng chủ yếu vẫn là nguyên nhân chủ quan mà chủ yếu là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về tầm quan trong của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thiếu tu dưỡng rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thực dụng, tham vọng quyền lực. Xét về vai trò của tổ chức, một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chưa tốt những quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên không nghiêm, buông lỏng phê bình, tự phê bình, chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo của cấp trên, nể nang, xuề xòa, né tránh trong đấu tranh với những vi phạm đã làm thui chột tính tích cực, dung dưỡng cho tính không trung thực, hình thành thói xấu, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, tạo điều kiện cho lòng tham, ích kỷ, vụ lợi của chủ nghĩa cá nhân nảy nở.

Trong những năm qua, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “diến biến hòa bình” với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong đó dân chủ, nhân quyền là chiêu bài mà chúng vẫn lợi dụng nhằm kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt chúng triệt để lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm bị đưa ra xem xét, xử lý, nâng hiện tượng cá biệt thành bản chất để nói xấu, bôi nhọ Đảng ta, tung ra nhiều luận điệu đòi thực thi cái gọi “dân chủ”, “tự do”, quyết liệt đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để có “dân chủ và phát triển”, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ quyền lãnh đạo cách mạng hòng xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành. Mặt khác, chúng tập trung vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được, Chủ nghĩa Mác - Lê nin không phù hợp với hiện thực Việt Nam v.v.

Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nhiệm vụ trọng tâm. Đó là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, nêu cao tính chủ động, chiến đấu, ngày 28/12/2021 Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết đã chỉ rõ: “Một số cán bộ, chiến sĩ chưa thực sự yên tâm công tác, nảy sinh tư tưởng khi nhận nhiệm vụ khó khăn gian khổ, nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo dẫn đến thoái thác nhiệm vụ, đảo ngũ, tìm mọi cách để tác động nhằm chuyển vùng, chuyển ra...; bị ảnh hưởng bởi tư tưởng tiêu cực thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình; phát ngôn chưa mang tính xây dựng, chỉ thấy mặt tiêu cực, chưa thấy hết mặt tích cực. Trong đấu tranh tự phê bình và phê bình còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; dĩ hòa vi quý, tư tưởng trung bình chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, tính toán thiệt hơn, làm việc cầm chừng, không sâu sát cơ sở và bộ đội. Việc nhận diện các biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân có nơi còn lúng túng mơ hồ hoặc coi đó chỉ có ở bên ngoài Quân đội, dẫn đến không đề ra được các giải pháp căn bản để ngăn chặn, đấu tranh, phòng chng”.

Nhìn lại chặng đường lịch sử phát triển, trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Quân đội ta đã lập nên nhiều chiến công vang dội trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, viết nên truyền thống tốt đẹp “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Thực tiễn đã chứng minh, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khi đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, dù gian khổ, hy sinh, mất mát, song cán bộ, chiến sĩ quân đội ta vẫn luôn nêu cao ý chí chiến đấu, quyết tâm giành thắng lợi. Bởi vì, nguồn cội tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội, chính là phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa cá nhân luôn bị triệt tiêu và loại bỏ.

Chúng ta đều biết, tư tưởng con người rất khó nắm bắt, nhất là tư tưởng tiêu cực, lối sống ích kỷ thực dụng của “chủ nghĩa cá nhân” vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người, trong đồng chí, đồng đội, ở chính tập thể, cơ quan, đơn vị mình. Do vậy, yêu cầu cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị cần bám sát đời sống bộ đội để nắm bắt, quản lý tư tưởng, chọn đúng các dấu hiệu cụ thể đang nảy sinh có biện pháp xử lý phù hợp là yếu tố then chốt, quyết định đến khả năng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị. Vì vậy, thực tiễn đặt ra hiện nay trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là phải xóa bỏ triệt để tận gốc “chủ nghĩa cá nhân” là hết sức cần thiết và cấp bách, nhưng đòi hỏi phải có hướng đi đúng, cách làm thận trọng, tránh nóng vội, chủ quan, nhưng cũng không tuyệt đối hóa khi áp dụng các biện pháp một cách dập khuôn, máy móc. Do đó, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tổng thể các hoạt động của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi quân nhân.

Phát huy tốt phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” để kiên quyết đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong Quân đội hiện nay là một biện pháp căn bản, cấp thiết và hiệu quả. Trong đó, điều quan trọng nhất là phải lựa chọn đúng, trúng khâu đột phá vào thực tiễn của đơn vị mình bằng việc làm cụ thể và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ trì theo phương châm “trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau” tạo sự lan tỏa sâu rộng, đoàn kết thống nhất, chung sức đồng lòng kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ mọi suy nghĩ và hành động cá nhân chủ nghĩa, đặt lợi ích cá nhân lên trên, lên trước lợi ích của tập thể, làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống, bản chất uy tín của Quân đội và chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị và từng quân nhân.

Quá trình tiến hành, cn chú trọng làm tốt việc nêu gương “Người tốt, việc tốt”; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; không ngừng phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, lối sống. Đồng thời, tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ CB, ĐV ở mọi lúc, mọi nơi; phát hiện và xử lý kịp thời những đảng viên vi phạm tư cách, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát phải toàn diện cả tư tưởng chính trị, phẩm chất năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương đã nêu: “Việc nhận diện các biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân có nơi còn lúng túng mơ hồ hoặc coi đó chỉ có ở bên ngoài Quân đội, dẫn đến không đề ra được các giải pháp căn bản để ngăn chặn, đấu tranh, phòng chống”. Cho nên, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ chính là tạo được “bức tường thành” ngăn ngừa một cách hiệu quả quá trình hình thành “chủ nghĩa cá nhân”. Vì nếu như cán bộ, chiến sĩ được chăm lo, bồi dưỡng, trang bị các kiến thức cần thiết, nhất là độ vững vàng về chính trị, đạo đức, lối sống thì nhất định sẽ ngăn chặn và đẩy lùi được sự xâm nhập của “chủ nghĩa cá nhân” len lỏi trong đời sống hàng ngày. Để phát huy hiệu quả của việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời gian tới cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ giải pháp cơ bản sau:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội; nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, đổi mới công tác giáo dục chính trị, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần tự giác, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đủ phẩm, chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đề cao trách nhiệm nêu gương theo phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” thực sự là tấm gương mẫu mực trong phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Bốn là, ban hành đồng bộ và thực hiện nghiêm các đề án, chương trình hành động; xây dựng thể chế, quy chế, quy định, xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân.

Năm là, chăm lo xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; chú trọng xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, tạo điều kiện thuân lợi để phát huy và lan tỏa sâu rộng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Sáu là, tăng cường kiểm tra; kiểm soát, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm các biểu hiện vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Quân đội; kịp thời biểu dương, tôn vinh, nhân rộng những mô hình, cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.

Bảy là, nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp với các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương; tạo sự đồng thuận ủng hộ, giúp đỡ của cả hệ thống chính trị và toàn dân tạo sức mạnh tổng hợp, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra cho Quân đội những yêu cầu, nhiệm vụ mới ngày càng cao. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cả trong và ngoài nước thường xuyên cấu kết với nhau, đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và “phi chính trị hóa” Quân đội. Các cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chiến sỹ toàn quân cần nhận thức sâu sắc, có quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt trong phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 10, tr 306

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, tập 9