Thứ Hai, 8 tháng 8, 2022

 

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUYỀN TỰ DO THÔNG TIN MẠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giai đoạn gần đây, các phần tử phản động, chống phá tiếp tục sử dụng luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do thông tin, tự do Internet, mạng xã hội ở Việt Nam nhằm mục đích chống phá nền dân chủ, kích động, chia rẽ trong xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào nước ta. Các phần tử phản động cho rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do mạng xã hội,…

Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam, mạng xã hội bắt đầu du nhập vào từ những năm 2000 dưới hình thức các trang nhật ký điện tử (blog). Đến nay, có khoảng hơn 300 trang mạng xã hội khác nhau đã đăng ký hoạt động và có khoảng trên 76 triệu người dùng mạng xã hội. Trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất vì nhờ có thiết kế thuận lợi cho người sử dụng khi tạo lập tài khoản cá nhân, cũng như những tính năng trao đổi thông tin, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân với những người cùng nhóm, cùng sở thích... nên đã thu hút được nhiều thành viên tham gia. Tiếp sau Facebook là các trang My Space, Twitter, các blog…
Với cơ chế hoạt động của mạng xã hội có tính chất tương tác cao, “cư dân mạng” dễ dàng chia sẻ những thông tin cá nhân với nhau, nên đã thu hút số người tham gia ngày càng đông, trong đó có giới trẻ. Điều này đã tạo ra những mặt thuận lợi cho mọi thành viên khi tham gia mạng xã hội, đó là có thể chia sẻ cũng như tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu hoạt động riêng của mỗi người.

Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin chính thống, bổ ích, có tính giáo dục, còn có các thông tin không chính thống, sai sự thật, xuyên tạc, cổ xúy cho lối sống lệch chuẩn cũng được đưa lên mạng xã hội với các mục đích khác nhau. Thời gian gần đây, tình trạng sử dụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vu khống, nói xấu, kích động diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và công việc của cán bộ, công chức, viên chức trên cả nước. Ngoài ra, các vụ việc liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội với phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của người dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Bên cạnh đó, mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại tư tưởng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật nhà nước và mạng xã hội tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa, nguy cơ làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, cùng với việc phát triển mạng xã hội, cần phải có sự quản lý để phát huy tốt nhất những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại.

Các thế lực thù địch với cách nhìn phiến diện cho rằng, ở Việt Nam mạng xã hội bị đàn áp và mạng xã hội không có tự do thông tin, người dùng mạng xã hội không được bày tỏ chính kiến, suy nghĩ của mình... Đây là thông tin hoàn toàn bịa đặt và sai sự thật, bởi vì Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do Internet.

Thực tế, thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân và quản lý thống nhất lĩnh vực này, tiêu biểu như: Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 174/2013/NÐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện;… Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngàu một nâng lên, một phần là nhờ chúng ta đã tận dụng tốt cơ hội từ Internet, chính điều kiện phát triển tự do về Internet và mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua các trang mạng xã hội, người dân có thể bày tỏ thông tin và chính kiến của mình; không những thế còn có nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân... Những việc đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở Việt Nam đã chứng minh rằng ở Việt Nam không có chuyện đàn áp mạng xã hội, mà trái lại còn được Đảng, Nhà nước bảo đảm sự phát triển tự do. Thực hiện quyền tự do Internet, mạng xã hội luôn được đặt trong khung khổ pháp luật. Nhờ đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam.

Chí vì vậy, nhận rõ các quan điểm sai trái, phản động khi cho rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, đàn áp mạng xã hội; đồng thời đưa ra các luận cứ khoa học để phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái đó là việc làm cần thiết của mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là những người dùng mạng xã hội ở Vệt Nam hiện nay./.

 

 TRÒ HỀ CỦA NHỮNG CON RỐI LƯU VONG

          Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube thời gian gần đây, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để bình luận về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An... cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt... để bôi nhọ đất nước.

Ai cũng biết, các đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương, cho dù là ai, làm gì, sống ở đâu cũng đều khó ngẩng đầu lên được. Bởi, khó có một nền văn hóa nào, không một tổ chức tiến bộ nào lại dung túng, dung nạp những kẻ vong ân bội nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn. Chính sự suy thoái, suy đồi về đạo đức khiến luận điệu của những đối tượng phản động lưu vong chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ.

Với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, công chúng yêu nước cần tỉnh táo nhận diện thật - giả, trắng - đen... trên không gian mạng để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn./.

 CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ 

NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Có thể thấy, ở Việt Nam, tất cả các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đều hướng đến chống chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, dưới sự tác động của nguồn vốn và hàng hóa phương Tây; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tâm lý sính ngoại, chạy theo lợi ích vật chất, hỗ trợ các thành phần kinh tế tư bản, tư nhân nhằm lấn át, làm lu mờ kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cổ xúy cho những trường hợp suy thoái về đạo đức, tư tưởng, lối sống… làm ảnh hưởng đến vai trò, uy tín và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về vấn đề nhân quyền, một luận điệu mà các thế lực chống đối thường rêu rao: “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”; “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không chịu đổi mới về chính trị”;… Nhằm thực hiện mưu đồ của mình, chúng đưa ra học thuyết: “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, với ý đồ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác bằng mọi giá. Vấn đề nhân quyền cũng được các nước phương Tây gắn kèm với vấn đề tôn giáo, dân tộc. Họ vừa vận động, vừa dùng sức mạnh để ép Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc thông qua các nghị quyết về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, để từ đó có cớ can thiệp vào Việt Nam, như là yêu cầu thay đổi Hiến pháp, sửa đổi các điều luật mà họ cho rằng không phù hợp với luật pháp quốc tế... Các yêu sách, biện pháp mà phương Tây yêu cầu, thực chất là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Thực chất, vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch đang không ngừng rêu rao, chống phá ta đó chính là phủ nhận con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, đi đến phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo đó, mọi hoạt động coi trọng luận điệu đề cao “dân chủ, nhân quyền, nhân đạo” theo các giá trị của các nước tư bản phương Tây để áp đặt vào Việt Nam chỉ là giả tạo, thực chất là vì lợi ích của các nước phương Tây chứ không phải vì sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam./.

 BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU ĐÒI XÓA BỎ NỀN GIÁO DỤC

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới, phát huy trí tuệ của các cấp các ngành và toàn dân để xây dựng nền giáo dục Việt Nam đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Bên cạnh những đóng góp tâm huyết, vẫn còn những kẻ luôn xuyên tạc, bịa đặt, đặc biệt lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm trong lĩnh vực giáo dục trong thời gian qua để vu khống, quy chụp, đổ lỗi do chế độ xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trên mạng xã hội, chúng đăng tải nhiều bài viết cho rằng: “nhìn theo góc nào cũng thấy Việt Nam có nền giáo dục quá tụt hậu so với chính Việt Nam”. Các bài viết đã nhận định một cách hằn học, định kiến theo các góc độ như: lịch sử (giấu nhẹm diễn biến lịch sử dẫn đến tình trạng mù lịch sử); đạo đức (phủ nhận việc học tập noi gương đạo đức Hồ Chí Minh); xã hội học (không xem trọng ý kiến, nguyện vọng của cha mẹ học sinh); chính trị (chính trị là giáo dục, giáo dục là chính trị; nền giáo dục sẽ bị chính trị làm cho dập nát nếu không cõng trên lưng nó nền chính trị). Từ đó, chúng kêu gọi, muốn phát triển nền giáo dục thì phải xóa bỏ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa - “khối u quá khủng khiếp” của giáo dục ở Việt Nam. Những luận điệu trên hoàn toàn vô căn cứ, phủ nhận vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng mácxít trong nền tảng tinh thần của xã hội, xuyên tạc việc giáo dục lịch sử ở Việt Nam hiện nay.

Một là, chẳng có nền giáo dục nào đứng ngoài chính trị, phát triển giáo dục lại đòi xóa bỏ chế độ đương thời

Mỗi chế độ xã hội có một nền giáo dục tương ứng, phục vụ giai cấp lãnh đạo và lợi ích của xã hội. Nếu nền giáo dục đi ngược lại điều đó thì sẽ không tồn tại và phát triển được. Không thể có chuyện ở chế độ tư bản chủ nghĩa phải xây dựng nền giáo dục không phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Chẳng nhà cầm quyền tư sản nào cổ súy và tiếp nhận những tư tưởng, việc làm để phát triển nền giáo dục cần phải đứng ngoài chính chị và lật đổ giai cấp tư sản.

Nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta, giữ vai trò trung tâm, chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Nói muốn phát triển nền giáo dục Việt Nam cần phải xóa bỏ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đó là sự hoang tưởng, chẳng hiểu gì về giáo dục và chính trị.

Hai là, giáo dục lịch sử ở Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử dân tộc

“Mất nước chứ không mất làng”, đó là truyền thống ngàn đời của dân tộc ta. “Làng” ở đây là lịch sử truyền thống, văn hóa, đạo đức tiến bộ, độc đáo của người Việt Nam. Cha ông ta luôn coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc cho thế hệ sau. Dù kẻ thù có tìm mọi cách đồng hóa, phá hoại, xuyên tạc, song người Việt Nam luôn sáng suốt, phân biệt rạch ròi công, tội, đánh giá khách quan về lịch sử. Đó là sự răn dạy con cháu “uống nước nhớ nguồn”, biết ơn những người có công với non sông đất nước, vạch mặt những kẻ “Việt  gian”, “bán nước”, “cõng rắn cắn gà nhà”. Đó là thái độ cứng rắn, kiên quyết với thứ “ăn cháo đá bát”, “ăn cây táo rào cây sung” khi nhìn nhận về lịch sử dân tộc. Giáo dục lịch sử ngày xưa chủ yếu là truyền miệng, gặp rất nhiều khó khăn từ kẻ “xâm lược”.

Có một sự thật hiển nhiên mà các nhà dân chủ cuội đều biết nhưng vẫn trơ trẽn xuyên tạc, phủ nhận: đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, là sự lựa chọn, khát vọng của người dân Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử xã hội loài người. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành và có cuộc sống sung sướng, tự do. Thành quả, cơ đồ của dân tộc ta được như ngày hôm nay là công lao, mồ hôi, xương máu biết bao thế hệ người Việt Nam, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ vĩ đại, trong đó có sự hy sinh của hàng triệu của đảng viên. Lợi ích của Đảng tất cả chỉ vì dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Vậy nền giáo dục Việt Nam phải đi theo hướng nào khi xóa bỏ cái sự thật hiển nhiên ấy. Đành rằng, nền giáo dục của ta có những yếu kém, khuyết điểm song không phải do bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cũng đang hết sức, tận tâm, tận lực để khắc phục. Đổi mới, xây dựng nền giáo dục Việt Nam phải vì mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thật nực cười cho những kẻ “góp ý”, “kêu gọi” chấn hưng, đổi mới, xây dựng nền giáo dục nước nhà lại đòi xóa bỏ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng nền giáo dục Việt Nam theo hướng: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài” còn nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, bên cạnh việc đóng góp những tâm huyết, nhân lực, trí lực, vật lực cho phát triển nền giáo dục nước nhà, chúng ta cũng luôn tỉnh táo, nhận diện, vạch trần và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, chống phá, nhất là những kẻ đòi “xóa bỏ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam.

 

 

 

KHÔNG THỂ VU KHỐNG, BỊA ĐẶT VỀ BẢN CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”


Vừa qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi thủ đoạn để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trong đó, chúng tiến hành chống phá quyết liệt Quân đội nhân dân Việt Nam, công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng đòi “phi chính trị hóa” quân đội, tách rời mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, trong đó có những máy chủ đặt ở nước ngoài, chúng tiếp tục bịa đặt, vu khống nhằm bôi nhọ danh dự, uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đó, chúng tập trung vào các đồng chí lãnh đạo cao cấp của quân đội. Chúng vu khống rằng giữa cán bộ cao cấp trong quân đội đã và đang “có bão” vì xảy ra mâu thuẫn lớn, vì tranh giành quyền lực của nhau, có lợi ích nhóm, bênh che cho nhau trong các vụ án tham nhũng, tiêu cực…

Thực tế cho thấy, những thông tin xấu, độc trên hoàn toàn là do các thế lực chống phá lượm lặt từ những thông tin sai lệch, bịa đặt, gán ghép lung tung, thâm chí vu khống trắng trợn về mối quan hệ của các cán bộ quân đội. Ví dụ, chúng dựng đứng ra chuyện các cán bộ lãnh đạo quân đội tranh giành quyền lực của nhau, đấu đá lẫn nhau, trong khi trên thực tế công tác cán bộ trong quân đội luôn được Đảng, Nhà nước và quân đội nghiên cứu, lựa chọn, phân công hợp lý, bảo đảm đúng quy định, nguyên tắc, đúng người, đúng việc và các cán bộ quân đội đều thực hiện nghiêm túc sự phân công, sắp xếp của tổ chức, cùng đoàn kết thống nhất cao để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Hay như chúng lượm lặt, nghe hơi nồi chõ một số thông tin, biểu hiện, sự việc nhỏ nhặt xảy ra rồi vu khống, “nâng cấp”, đưa lên thành chuyện “như thật” để bêu xấu, vu cáo, chống đối. Chúng còn cắt ghép hình ảnh bừa bãi, cắt xén lung tung, không chính xác rồi chú thích một cách vô lý, hoàn toàn mang tính bịa đặt. Thật hài hước, mỉa mai khi chúng rêu rao rằng “theo nguồn tin tin cậy”, trong khi trên thực tế ngay đến tên tuổi, chức danh, vị trí công tác của nhiều người mà chúng đưa ra cũng không chính xác, “râu ông lọ cắm cằm bà kia”, thậm chí chúng còn mạo danh, giả danh các đồng chí lãnh đạo quân đội để thông tin thất thiệt, hoàn toàn bịa đặt.

Thực tế thời gian qua cho thấy: những thủ đoạn chống phá thâm độc, đen tối, trắng trợn, tinh vi với mưu đồ xấu trên đây, không lừa được dư luận và đều phải chịu thất bại. Những kẻ chống phá đã rất nhiều lần bị dư luận bóc mẽ, thậm chí có kẻ đã bị xử lý hình sự về hành vi vu cáo người khác. Sự chống phá trên đều đã bị thất bại trước sự thật tốt đẹp cùng tinh thần cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả của chúng ta. Sự đoàn kết thống nhất, duy trì nghiêm kỷ luật đã trở thành truyền thống tốt đẹp và luôn được giữ gìn, phát triển trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Vừa qua, trong quân đội đúng là có một số vi phạm xảy ra nhưng chỉ là hiện tượng cá biệt, là biểu hiện của “Con sâu làm rầu nồi canh” và đều đã bị xem xét xử lý công khai, nghiêm minh, dứt điểm, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được dư luận đồng tình, hoan nghênh, qua đó giữ vững được niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân vào quân đội. Các cơ quan trong và ngoài quân đội luôn nghiêm túc kiểm tra, thanh tra theo chức năng và thẩm quyền, những ai có sai phạm đều bị xem xét xử lý theo quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước, của quân đội. Một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật và được thông tin công khai trước dư luận, đồng thời qua đó quân đội cũng kịp thời, thẳng thắn rút kinh nghiệm, sửa chữa, khắc phục để phòng tránh, kiên quyết không tái diễn sai phạm. Hiện nay, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân đang đoàn kết thống nhất, vững bước đi lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó chứ không hề “có bão” hay có chuyện lợi ích nhóm, bao che, tiếp tay cho nhau để chia chác như thế lực xấu tuyên truyền, vu khống.

Gần 78 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn luôn xứng danh là “Bộ đội Cụ Hồ” và giờ đây danh xưng cao quý ấy tiếp tục được giữ gìn phát triển mà không thể có thế lực xấu nào ngăn cản, chống phá được. Toàn quân đã và đang tiếp tục quyết tâm thực hiện thắng lợi tinh thần chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư, Bí thư Quân Ủy Trung ương tại Hội nghị lần thứ tư Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025, ngày 13 - 7 - 2022: Mỗi cán bộ, chiến sĩ, trong quân đội, nhất là lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn tự soi, tự sửa, giữ mình và rèn luyện, tu dưỡng, gương mẫu, đi đầu… góp phần công sức, trí tuệ để quân đội ngày càng mạnh, trưởng thành hơn và mãi mãi xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần ra sức kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống, loại bỏ những thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Chúng ta vừa nâng cao cảnh giác, nói không với các thông tin xấu, độc của kẻ xấu, vừa phải tăng cường niềm tin vào uy tín, danh dự, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cần rèn luyện phấn đấu tốt hơn nữa để góp phần tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng ta luôn phấn đấu, rèn luyện, tin tưởng và kỳ vọng Quân đội nhân dân Việt Nam đã và sẽ mãi mãi thực hiện tốt nhất lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc, lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

 Dongtuan.k11 - st

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN, PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

 DÂN TỘC Ở VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER NAM BỘ


Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc ta, đồng bào Khmer Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; luôn phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, cùng đồng bào cả nước thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chăm lo, xây dựng vững mạnh toàn diện, không thế lực nào có thể phủ nhận và phá hoại được.

Hiện nay, hùa theo sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động người Khmer trong và ngoài nước đang lợi dụng triệt để những tồn tại, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý điều hành của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở, cùng những khó khăn của một bộ phận đồng bào Khmer, nhất là ở vùng sâu, vùng xa để kích động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc; trong đó, tổ chức “Liên đoàn Khmers Kampuchea Krom - KKK - KKF” là một trong những điển hình. Chúng đã triệt để tận dụng các “diễn đàn” quốc tế, tiếp xúc với chính khách các nước phương Tây để gia tăng hoạt động xuyên tạc, vu cáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam nói chung, vùng đồng bào Khmer Nam Bộ nói riêng.

Bất chấp sự thật lịch sử: vùng đất Tây Nam Bộ là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào Khmer, các thế lực thù địch ra sức vu cáo Việt Nam “cướp đất” Campuchia; xuyên tạc trắng trợn chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc, nhất là những vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc Khmer. Để khuyếch trương thanh thế, họ quy tụ những đối tượng người Khmer đã từng tham gia ngụy quân, ngụy quyền, những trí thức và cá nhân có tư tưởng cực đoan, bất mãn để lôi kéo tham gia các tổ chức chống đối, như: “Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia Krôm (KKNLF)”, “Quốc hội Khmer Krôm hải ngoại”, v.v. Đồng thời, hỗ trợ một số tổ chức phản động ở nước ngoài xuất bản các ấn phẩm để công bố những thông tin theo suy diễn chủ quan của họ, như: Tạp chí “Tiếng nói cộng đồng” ở Campuchia, “Tiếng nói Khmer Campuchia Krôm” ở hải ngoại,... nhằm mục đích quốc tế hóa vấn đề người Khmer Nam Bộ, kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Thâm hiểm hơn, chúng thúc đẩy, “vận động” đồng bào Khmer, nhất là đối với các sư sãi trẻ lấy cớ sang Campuchia tu học nâng cao trình độ Phật pháp, nhưng thực chất là xúi bẩy, lôi kéo họ vào tổ chức, đưa đi đào tạo, huấn luyện ở bên ngoài, sau đó đưa về nước nắm giữ các vị trí quan trọng trong Phật giáo Nam tông Khmer nhằm thực hiện âm mưu thành lập: “Nhà nước Khmer Krôm”, v.v.

Song, dù các thế lực thù địch có cố tình xuyên tạc, chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể phủ nhận, phá hoại khối đại đoàn kết vững chắc của toàn thể dân tộc Việt Nam; đó là nguồn sức mạnh vô địch để nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, chiến thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh trong lịch sử; là nguồn động lực to lớn để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường. Tự thân khối đại đoàn kết ấy đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ của các thế lực thù địch; vô hiệu hóa ý đồ kích động “ly khai, tự trị” Tây Nam Bộ; động viên đồng bào Khmer phát huy tinh thần đoàn kết, yêu nước trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay.

 Lịch sử dân tộc đã minh chứng: đồng bào Khmer ở nước ta là một cộng đồng sinh sống lâu đời trên địa bàn 18 tỉnh, thành phố của Nam Bộ1; cùng với các dân tộc anh em đã có công khai phá, tạo lập, giữ gìn và bảo vệ vùng đất phía Nam thân yêu của Tổ quốc. Khmer theo tiếng Phạn là “Khê ma ra”, có nghĩa là an bình, hạnh phúc, đồng bào Khmer luôn cần cù lao động, sống nhân ái theo giáo lý đạo Phật, giàu truyền thống đoàn kết, yêu nước, yêu lao động, sống nhân nghĩa, vượt qua muôn vàn thử thách để tồn tại và phát triển.

Trong thời gian xâm lược nước ta, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng trong quan hệ giữa các dân tộc anh em. Nhưng, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của đồng bào Khmer ở Nam Bộ chuyển sang giai đoạn đấu tranh tự giác, có tổ chức; tình đoàn kết các dân tộc Kinh, Khmer và Hoa được củng cố, tăng cường; đồng bào Khmer tích cực tham gia vào: “Hội Tương tế ái hữu”, “Nông Hội đỏ”, “Cứu Tế đỏ”, “Hội Ủng hộ Issarăk”, “Hội Cao Miên tự do”, “Ban Sãi vận”, v.v. Qua các phong trào đấu tranh, đồng bào Khmer ngày càng nhận thức rõ hơn và tin tưởng vào khả năng, sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng, chống chế độ thực dân, phong kiến, chống phát xít, đòi quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Nhiều thanh niên, trí thức Khmer Nam Bộ đã giác ngộ lý tưởng cách mạng, tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào Khmer tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống lại kẻ thù đã thu hút đông đảo đồng bào Khmer tham gia, nhiều căn cứ kháng chiến của lực lượng yêu nước vùng Tây Nam Bộ được xây dựng và phát triển trong vùng đồng bào Khmer, tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào Khmer Nam Bộ đã tích cực tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Dưới ngọn cờ chính nghĩa, đoàn kết của Mặt trận, lực lượng cách mạng trong vùng đồng bào Khmer phát triển nhanh chóng, với các tổ chức cách mạng, như: Ban Khmer vận khu Tây Nam Bộ, Ban Khmer vận các cấp và phát triển cơ sở cách mạng trong giới sư sãi. Nhiều vị sư sãi Khmer đã hoàn tục, trực tiếp cầm súng tham gia chiến đấu; nhiều phong trào đấu tranh công khai của đồng bào và sư sãi Khmer chống các chính sách phản quốc, hại dân của chính quyền tay sai Mỹ - ngụy đã diễn ra ở khắp vùng Nam Bộ, như: chống dồn dân, chống bắn phá chùa chiền, chống lấy chùa làm đồn bốt, v.v. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của hơn hai vạn đồng bào Khmer ở Trà Vinh năm 1967; cuộc đấu tranh của hơn hai trăm sư sãi ở Rạch Sỏi - Kiên Giang; cuộc đấu tranh của bốn vạn đồng bào Khmer ở Trà Cú - Cửu Long,… đã minh chứng tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Khmer Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trải qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, nhiều ngôi chùa của đồng bào Khmer đã trở thành cơ sở cách mạng, nhiều sư sãi, đồng bào Khmer đã dũng cảm hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, nhiều người đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhiều Mẹ Việt Nam anh hùng là người Khmer, nhiều sư sãi đã giữ cương vị cao trong Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đảng đã giác ngộ, dìu dắt nhiều người con ưu tú của dân tộc Khmer tham gia cách mạng, trở thành đảng viên và nắm giữ các chức vụ quan trọng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, thực hiện nhất quán đường lối, chính sách: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển vùng đồng bào Khmer. Đầu tư hàng trăm tỉ đồng để triển khai các hạng mục, công trình, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo cán bộ và cộng đồng; xây dựng gần 100 nghìn nhà ở; hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho hơn 30 nghìn hộ; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi ngành nghề, tạo sinh kế cho hàng nghìn người dân. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer mỗi năm giảm 03%, đến nay chỉ còn khoảng 25%; nhiều trang trại, doanh nghiệp do chính đồng bào Khmer làm chủ; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, duy trì và phát triển tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer luôn được Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các địa phương đặc biệt quan tâm, chú trọng. Nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên dân tộc Khmer, như: cử tuyển, dự bị đại học, trao học bổng, hỗ trợ tiền, gạo, miễn, giảm học phí; chính sách thu hút đối với giáo viên, cán bộ giáo dục công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của đồng bào Khmer được thực hiện có hiệu quả. Hệ thống trường phổ thông, trường dân tộc nội trú, trường dạy nghề cho con em đồng bào Khmer đã phát triển đến 100% các huyện có đông đồng bào Khmer; tỷ lệ huy động trẻ em Khmer trong độ tuổi đến trường đạt trên 90%. Bình quân hằng năm, có trên 500 học sinh người dân tộc Khmer được tuyển sinh theo hình thức cử tuyển. Việc dạy song ngữ ở các trường tiểu học, trung học cơ sở vùng đồng bào dân tộc Khmer từng bước được mở rộng. Chính quyền địa phương luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là người Khmer; thực hiện tốt chế độ chính sách đối với giáo viên và các vị sư sãi tham gia giảng dạy chữ Khmer tại các điểm chùa, trường học. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học ở hầu hết các trường có đông đồng bào Khmer sinh sống, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển.

Công tác chăm lo sức khỏe cho đồng bào Khmer luôn được cấp ủy, chính quyền chú trọng. Mạng lưới y tế cơ sở thường xuyên được đầu tư, củng cố; chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên; công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ, rộng khắp. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn dưới 30%; trung bình mỗi năm có khoảng trên 70 nghìn lượt người được khám, chữa bệnh miễn phí.

Công tác văn hóa, thông tin và bảo tồn, khai thác, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer được triển khai thực hiện đồng bộ, đạt nhiều kết quả. Những năm qua, các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống đã tăng thời lượng phát sóng các chương trình bằng tiếng Khmer của đài phát thanh các địa phương, đã phát hành báo bằng chữ Khmer; Thông tấn xã Việt Nam đã phát hành báo ảnh song ngữ Việt - Khmer, mở trang Website phục vụ nhu cầu và nâng cao nhận thức của người dân. Nhiều địa phương đã xây dựng nhà truyền thống, trung tâm văn hóa tiêu biểu, Nhà bảo tàng dân tộc Khmer, trưng bày nhiều hiện vật văn hóa vật thể, phi vật thể có giá trị. Một số nơi đã xây dựng các di tích lịch sử văn hóa của đồng bào Khmer; hằng năm, các lễ hội truyền thống được duy trì và tổ chức thu hút đông đảo đồng bào tham gia. Việc giao lưu văn hóa, họp mặt hữu nghị với các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và với nước bạn Campuchia được tăng cường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước.

Cấp ủy đảng các cấp ở các địa phương trong Vùng thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác tôn giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng, giúp cho hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer ổn định, đúng hướng, tạo niềm tin của sư sãi, tín đồ đối với Đảng, Nhà nước. Hiện nay, vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ có 453 chùa, trong đó 14 chùa được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; 29 chùa được công nhận di tích cấp tỉnh; ghi công, khen thưởng 150 chùa có công với cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ. Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước được xây dựng ở cả ba cấp từ tỉnh đến cơ sở, hoạt động của các cấp hội cơ bản ổn định, nền nếp và hiệu quả. Công tác tu sửa, xây dựng, trùng tu chùa và di tích lịch sử văn hóa của đồng bào Khmer được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư, hỗ trợ, với trên 200 ngôi chùa được tu bổ khang trang, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Khmer.

Những kết quả trên đã lần nữa minh chứng, tỏ rõ sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân cả nước nói chung, đồng bào Khmer Nam Bộ nói riêng; đồng thời, khẳng định tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa đồng bào dân tộc Khmer với các dân tộc anh em trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam luôn bền vững, không thế lực nào có thể chống phá, chia rẽ được.

Dongtuan.k11 - st

 

XUNG ĐỘT NGA - UKRAINE, LỘ RÕ VỀ EU


Kể từ khi thành lập Liên minh châu Âu (EU) tháng 1/1993 thế giới đã hình thành mới một trung tâm về CT-KT, có vai trò quan trọng trong sự vận động, phát triển của nhân loại.

Sự phát triển của từng bước đã đưa con số các nước trong EU hiện nay là 27 nước, do vương quốc Anh đã rời bỏ EU từ tháng 1/2020.

Những năm trước đây, với bộ ba Đức, Anh, Pháp là ba trụ cột kinh tế dẫn đầu, đã dẫn dắt EU trong một thời gian dài với những chiến lược phát triển KT-XH.

Hiện tại vương quốc Anh đã rời bỏ EU, nên bộ ba mới dẫn dắt EU là Đức, Pháp, Ý.

Sự hình thành các cường quốc kinh tế thế giới là Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, có nhiều tác động mạnh tới dòng chảy Thương mại toàn cầu, theo đa phương và song phương.

EU chỉ bộ lộ rõ những điểm yếu của mình khi cuộc xung đột Nga-Ukraine bùng phát.

Thực chất vương quốc Anh đã phải rời bỏ EU, vì họ đã “ngửi” thấy mùi bốc ra, và họ cũng không muốn “ôm rơm, rặm bụng” nữa, họ không muốn phải chịu những quy định ràng buộc của EU, không muốn phải đóng góp một phần ngân sách quan trọng cho EU, và nhất là trong dòng chảy Thương mại đa phương, song phương hiện nay, họ có nhiều thuận lợi hơn là khó khăn về các chính sách phát triển KT-XH. Vương quốc Anh đã trở về với Liên hiệp Anh vốn có gồm các nước Úc, Canada, Newzeland, hiện là “đồng minh” số một của Mỹ trong mọi chính sách, chiến lược của Mỹ.

EU phải bỏ ra một nguồn ngân sách không nhỏ để nuôi bộ máy điều hành cồng kềnh như Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu, Liên minh châu Âu, Tòa án công lý châu Âu .v.v

EU phụ thuộc phần lớn vào nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga như Than đá, Dầu mỏ, nhất là nguồn Khí đốt, với giá cả hợp lý nhất, chi phí vận chuyển rẻ nhất, nhanh nhất.

Ông anh cả là Đức của EU đã có thời gian 16 năm phát triển thuận lợi, tốt nhất, dưới sự chèo lái của nữ TTg Angela Merker, bằng một chính sách mềm dẻo, khôn ngoan với nước Nga của TT Putin.

EU dù là một trung tâm quyền lực lớn về CT-KT-QP của thế giới, là hạt nhân lớn thứ hai trong NATO (chỉ sau Mỹ) những vẫn phải chịu “cái gậy” của ông lớn HK, ngay như cả nước Đức dưới thời cầm quyền khôn ngoan, tài giỏi của nữ TTg Angela Merkel cũng vẫn phải nằm trong ‘vòng kim cô” đã cương tỏa

Mặc dù vậy, EU chỉ bộc lộ rõ nhất những điểm yếu chí cốt khi TT Putin phát động chiến dịch quân sự đặc biệt vào Ukraine, với 3 mục tiêu chính: Cứu giúp người dân Nga ở vùng Donbass, phi quân sự hóa, phi phát xít hóa ở Ukraine.

Với chính sách cấm vận Nga năm 2014 cùng với Mỹ, khi sự kiện phong trào Maidan xảy ra ở Ukraine, EU đã bắt đầu dấn sâu vào một chính sách thiếu thân thiện với Nga trên mọi phương diện. Tuy vậy, EU vẫn chưa bùng phát nghiêm trọng những mâu thuẫn, bất đồng trong khối, bởi xuất phát từ lợi ích quốc gia của nhiều nước..

Khi chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga bắt đầu vào 24/2/2022, EU đã cùng với Mỹ, một số nước phương tây khác, đã thực hiện một chính sách cấm vân, các biện pháp tổng hợp trừng phạt Nga lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới, nhằm cô lập, làm suy yếu nước Nga.

Nhưng “gậy ông lại đập lưng ông”. Một EU rối loạn, khủng hoảng, bất đồng đã bùng phát cũng chưa từng có.

- Khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng Than đá, Dầu mỏ, nhất là Khí đốt. Các nguồn cung từ bên ngoài thay thế chưa đáp ứng được.

- Tình trạng lạm phát gia tăng chưa từng thấy (cùng với sự lạm phát toàn cầu).

- Gánh nặng về 6,3 triệu người di tản Ukraine chạy sang EU. Điều trớ trêu là chỉ tập trung vào các nước thuộc Liên Xô và Đông Âu cũ, gây ra sự bất ổn về đời sống xã hội.

- Một số biện pháp trừng phạt Nga kém hiệu quả, gây ra sự bất đồng đầy mâu thuẫn giữa các nước trong EU. Hiện tại EU đã bắt đầu phải nới lỏng biện pháp trừng phạt Nga về dầu mỏ, khí đốt, nhằm mục đích cứu vãn tình trạng khốn đốn về thiếu dầu mỏ, khí đốt hiện nay.

- Bộ ba anh cả dẫn dắt EU là Đức, Pháp, Ý đều bị bất ổn trong giới cầm quyền ở Quốc hội, Chính phủ.

- Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, đồng EUro bị mất giá so với đồng usd, đồng Rúp của Nga.

- Một số nhà lãnh đạo của một số quốc gia trong EU đã thẳng thắn công khai rằng: EU không thể thiếu nước Nga trong chính sách phát triển lâu dài. Các biện pháp trừng phạt Nga kém hiệu quả, có tác dụng ngược lại, gây tổn thất cho EU nhiều hơn là cho Nga. EU không thể thiếu nguồn năng lượng dầu mỏ, khí đốt của Nga trước mắt cũng như trong tương lai….Chính TTg Mỹ Bidel đã phải thừa nhận không có được một nguồn cung nào để thay thế được cho nguồn năng lượng dầu mỏ, khí đốt của Nga.

- Chỉ vì một giới cầm quyền Ukraine cực hữu, tân phát xít dám tiên phong đối đầu với Nga, EU đã sai lầm nghiêm trọng khi đi theo chính sách cấm vận Nga của ông chủ HK. Nước Nga không suy yếu, tuy cũng có những khó khăn, tổn hại. Nhưng chính EU mới là chủ thể bị tổn hại nhiều hơn, rối loạn hơn, bất ổn hơn bao giờ hết.

Chính cuộc xung đột Nga-Ukraine đã làm cho EU bộ lộ rõ những góc khuất được che dấu bấy lâu nay.

*** EU là một tổ chức liện hiệp các quốc gia duy nhất hiện nay trên thế giới có một mô hình quản lý, điều hành không thích hợp trước toàn cầu. Điều rõ rất là EU đã phải bỏ ra một nguồn ngân sách không nhỏ để nuôi các tổ chức bộ máy trong EU vừa cồng kềnh, vưa thiếu sự  nhất quán, phù hợp với luật pháp, lợi ích riêng của từng quốc gia.

Sự già cỗi của châu Âu thể hiện trong một mô hình hiệp hội các quốc gia kém tiên tiến hiện nay ?

Dongtuan.k11 - st

 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ THẬT SỰ LÀ SẢN PHẨM 

CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN


Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc những quan điểm, kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường của các nước trên thế giới vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay,  có nhiều quan điểm chưa thống nhất, không ít thế lực ra sức chống phá, xuyên tạc, đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Thực chất, đó là luận điểm phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn, cố tình xuyên tạc mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bởi lẽ:

Nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa. Các phạm trù (giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ), quy luật (giá trị, cạnh tranh, cung - cầu) của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thời kỳ đầu mới ra đời là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chưa có hoặc rất ít sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của thị trường - “bàn tay vô hình”, ngoài những mặt tích cực còn đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước - “bàn tay hữu hình” để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, vừa có điều tiết bởi “bàn tay hữu hình”.

Như vậy, kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Đến nay, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triển, như kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường phối hợp ở Nhật Bản,…

 Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế chưa phát triển, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết, nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển, từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Trong đó, đặc trưng của kinh tế thị trường nói chung được thể hiện ở  chỗ, đó là nền kinh tế: Vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong phân bổ, huy động các nguồn lực phát triển; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Mặt khác, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn mang đặc trưng về định hướng xã hội, đó là nền kinh tế thị trương: Có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Theo đó, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là mô hình kinh tế đặc thù lấy cái riêng là định hướng xã hội chủ nghĩa để chế định cái chung là kinh tế thị trường. Nó vừa bao hàm đầy đủ các thuộc tính chung của kinh tế thị trường, nhưng vừa chứa định những cái riêng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó hoàn toàn phù hợp với qui luật phát triển của lịch sử, Bởi lẽ, trong lịch sử phát triển của nhân loại cũng đã chứng minh điều đó.

 Mr Beautiful

 

Tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm cho các tổ chức, lực lượng đối với việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đoàn viên, thanh niên ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay


 

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Nhân loại đang bước vào Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với hàng loạt những đột phá khoa học và tiến bộ công nghệ, dự báo sẽ tạo những biến chuyển sâu sắc và toàn diện trong đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Ở trong nước, thế và lực, uy tín quốc tế, sức mạnh tổng hợp của đất nước và Quân đội ngày càng tăng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bối cảnh trong nước và quốc tế vừa tạo ra thời cơ thuận lợi, vừa mang đến những khó khăn, thách thức đối với thanh niên và công tác đoàn. Ðảng, Nhà nước, nhân dân, Quân đội luôn đặt niềm tin sâu sắc vào thế hệ trẻ. Với đặc tính trẻ trung, sôi nổi, năng động, sáng tạo, sục sôi nhiệt huyết, ĐV,TN đã và đang chứng tỏ vai trò là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại tạo tiền đề để tiến tới hiện đại vào năm 2030.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc. Nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới đòi hỏi phong trào thanh niên và tổ chức đoàn phải không ngừng đổi mới và nỗ lực phấn đấu vươn lên, nâng cao chất lượng tổ chức, phương thức và hiệu quả hoạt động, phát huy mạnh mẽ vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, là một tổ chức ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống cho đội ngũ ĐV,TN là nội dung cơ bản, là nhiệm vụ quan trọng, là công việc tự giác, thường xuyên của Đoàn. Tuy nhiên, do chưa được từng trải, thiếu kinh nghiệm sống, thanh niên cũng là đối tượng thường bị các thế lực xấu, thù địch tiếp cận, lôi kéo, kích động, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", làm cho rơi vào tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhằm phá hoại cá nhân ĐV,TN, làm suy yếu tổ chức đoàn và dẫn tới hệ quả tiêu cực đến sự nghiệp cách mạng của nước ta.

Do đó, cần phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đoàn viên, thanh niên ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Muốn vậy, việc đầu tiên là phải tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm cho các tổ chức, lực lượng, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và ban chấp hành đoàn đối với việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đoàn viên, thanh niên ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay thông qua một số khía cạnh sau:

Một là, tạo sự chuyển biến về nhận thức cho các tổ chức, lực lượng, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và ban chấp hành đoàn đối với việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp cần quán triệt sâu sắc những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng về phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt về mục tiêu, quan điểm, chủ trương, biện pháp, nguyên tắc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN. Đây là những cơ sở quan trọng định hướng, chỉ đạo và tổ chức phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS.

Hiểu rõ mục đích, nhiệm vụ và nội dung phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên cơ sở đó, xây dựng ý thức trách nhiệm tham gia vào quá trình phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS.

Nhận thức sâu sắc về âm mưu thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" hòng chống phá thanh niên về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên cơ sở đó, xây dựng cho ĐV,TN tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, chủ động và kiến quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng

Tạo sự chuyển biến về nhận thức cho các tổ chức, lực lượng, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và ban chấp hành đoàn đối với việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay được tiến hành và kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách; kết hợp quá trình giáo dục với tự giáo dục của ĐV,TN.

Hai là, về tạo sự chuyển biến về nhận thức cho các tổ chức, lực lượng, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và ban chấp hành đoàn đối với việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị đảm trách vai trò lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ chủ trì, nòng cốt là cán bộ chính trị ở ĐVCS chị trách nhiệm của yếu trong chỉ đạo tổ chức thực hiện phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của ĐV,TN ở ĐVCS.

Ban chấp hành Đoàn các cấp đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện của ĐV,TN ở ĐVCS về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; quản lý chặt chẽ thanh niên và tình hình thanh niên; duy trì chặt chẽ chế độ nền nếp sinh hoạt đoàn, nhất là chế độ tự phê bình và phê bình, phát hiện kịp thời biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận ĐV,TN; xử lý vi phạm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong của ĐV,TN trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn.

 

 Irisco

 

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA


Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Happiness

 

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI”

MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA KẺ THÙ ĐỐI VỚI

CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY

Để nhằm chống phá và đi đến xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đã dùng chiến lược “diễn biến hoà bình”. Chiến lược “diễn biến hoà bình” được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị tư tưởng, văn hoá; tấn công vào nhiều lực lượng, tổ chức chính trị-xã hội, trong đó quân đội được xác định là đối tượng trọng điểm. Thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với quân đội các nước XHCN, chúng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.

Từ năm 1989, nhất là sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, thực hiện chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ chống phá quyết liệt các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Một trong những mục tiêu quan trọng, đồng thời còn là một thủ đoạn cơ bản trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của kẻ thù chống phá cách mạng nước ta là âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.

“Phi chính trị hóa quân đội”, đây là quan điểm hết sức sai trái, phản động và phản khoa học của kẻ thù. Ở chỗ, chúng cho rằng tổ chức ra quân đội là để “bảo vệ lợi ích toàn dân tộc”, quân đội đứng ngoài giai cấp, “quân đội là của toàn xã hội”, “quân đội trung lập” ... Chúng đã phủ nhận bản chất giai cấp, chức năng chính trị-xã hội của quân đội trong xã hội có giai cấp đối kháng.

Thực chất “phi chính trị hóa quân đội” là tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, vô hiệu hóa quân đội, làm cho quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng chính trị và mục tiêu, lí tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới quân đội “tự diễn biến” và bị “vô hiệu hóa”. Từ đó đi đến thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ta.

Đây là luận điệu đặc biệt nguy hiểm; thực sự phản động về chính trị và phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lý lẽ, lời “khuyên nhủ” của chúng là hợp lý, khách quan đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Không thể nói rằng, lực lượng vũ trang là "của nhân dân, của dân tộc” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng phái, lực lượng chính trị nào. Lịch sử phát triển của nhân loại từ khi có giai cấp, nhà nước đến nay cho thấy, không bao giờ có cái gọi là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, "đứng ngoài chính trị", "phi giai cấp", "không can dự vào chính trị"… Quân đội, công an luôn gắn chặt với giai cấp, nhà nước sinh ra nó và mang bản chất giai cấp sâu sắc. Vì thế, không thể có và không bao giờ có lực lượng vũ trang “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”, “phi chính trị”, “đứng ngoài chính trị”. V.I.Lê-nin đã vạch rõ bản chất phản động của luận điệu lực lượng vũ trang “đứng ngoài chính trị”, coi đó là “cái giáo lý tầm thường”, “giả nhân, giả nghĩa và dối trá”; và Người đã khẳng định một cách dứt khoát: Không thể có quân đội, công an “trung lập về chính trị”. Vì thế, mọi luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang thực chất chỉ là chiêu trò lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin, ấu trĩ về chính trị mà thôi.

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập, giáo dục, rèn luyện các Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, lấy QĐND và CAND làm nòng cốt. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND và CAND. Vì vậy, lực lượng vũ trang mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng QĐND và CAND theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,” lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng QĐND, CAND, đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trong mọi điều kiện, tình huống.

Tuy nhiên, đến nay vẫn có không ít người thiếu tỉnh táo đã cổ súy một cách mê muội cho những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch rao giảng và được một số hãng truyền thông phương Tây như: VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ cơ hội chính trị, phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng tung hô, cổ vũ nhiệt thành đã ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp xây dựng QĐND và CAND, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cần phải bác bỏ.

Mọi luận điệu cổ súy cho quan điểm “lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị”, đòi bỏ quy định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam… Đó chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; và gần đây là những sự kiện ở bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi, khiến chúng ta phải hết sức cảnh giác, không mắc mưu trước những chiêu trò “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch./.