Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG VÀ KHÔNG MƠ HỒ LẪN LỘN GIỮA ĐỐI TÁC, ĐỐI TƯỢNG



        Đối tác, đối tượng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế hóa và toàn cầu hóa ngày càng sâu sắc, đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia.
            Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đó là phải xác định đúng đối tác, đối tượng, vì đây là vấn đề hết sức quan trọng và coi đây quan điểm cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Theo đó Nghị quyết nhấn mạnh: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”. Quan điểm trên phù hợp với xu thế phát triển của thời đại hiện nay, giúp chúng ta không bị cô lập, đối đầu, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển đất nước, đồng thời đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi hành động xâm lược, phá hoại của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thấy rằng, đối tượng và đối tác là hai mặt của một vấn đề, luôn tồn tại trong cùng một chủ thể. Bất cứ chủ thể nào cũng có thể vừa là đối tượng lại vừa là đối tác. Vấn đề cốt lõi ở đây là cần nhận thức, khai thác khía cạnh nào trong quan hệ với chủ thể. 
        Trên thực tế hiện nay, có hai luồng ý kiến trái chiều. Một là, sự tương đồng về ý thức hệ sẽ giúp ta vượt qua một số rào cản, tạm gác các bất đồng, nâng tầm đối tác chiến lược toàn diện về lợi ích, cùng tồn tại phát triển một cách hòa bình, ổn định. Ý kiến này có thể dẫn đến sự chủ quan coi nhẹ mặt đối tượng, dẫn đến sự bị động, bất ngờ về chiến lược, thiếu chuẩn bị để có biện pháp đối phó hiệu quả khi chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ của đất nước bị xâm phạm, chiếm đoạt. Hai là, sự bất đồng về lợi ích chiến lược trong tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ khó có khả năng dung hòa, nhất là khi nước ta cả thế và lực chưa phải là đối thủ xứng tầm để có thể tự bảo vệ, do vậy phải chỉ rõ để có các biện pháp chiến lược liên kết, phòng ngừa. Đây là ý kiến dễ bị lợi dụng, kích động dư luận, gây phân hóa nội bộ, đòi hỏi liên kết với nước này để chống nước kia bảo vệ mình, nhưng thực chất là rơi vào thủ đoạn của một số nước lớn trong kiềm chế lẫn nhau, đưa nước ta vào thế đối đầu với nước khác. Do vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị trong tuyên truyền, giáo dục, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và không mơ hồ, lẫn lộn giữa đối tác, đối tượng, vì vậy cần mấy vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là, việc nhận thức giải quyết vấn đề đối tác, đối tượng cần phải nhìn nhận một cách linh hoạt hơn, bởi trong mỗi đối tượng cũng có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một đối tác cũng có mặt khác biệt, mâu thuẫn cần đấu tranh... Vì thế, trong nhận thức chúng ta cần khắc phục cả hai khuynh hướng sai trái là tuyệt đối hóa mặt đối tác dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác, thủ tiêu đấu tranh hoặc tuyệt đối hóa mặt đối tượng dẫn đến cứng nhắc trong nhận thức và xử lý các tình huống cụ thể, nhạy cảm. Do vậy, cần quán triệt đày đủ mục tiêu, phương châm, quan điểm của Đảng để từ đó cơ sở, luận cứ khoa học đấu tranh kiên quyết với những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, để không dẫn đến sự hiểu biết mơ hồ hoặc lẫn lộn giữa đối tác và đối tượng. Phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, vững vàng trước các thông tin xấu, độc từ bên ngoài và trên các mạng Internet, không để kẻ địch lợi dụng, kích động.
 Hai là, giải quyết đúng đắn về quan hệ bạn, thù hay đối tác, đối tượng là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng và cấp thiết cần phải phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục một cách có hệ thống, đồng bộ và liên tục. Tuy nhiên, trên thực tế một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng còn mơ hồ, mất cảnh giác, nhìn nhận một cách phiến diện về đối tác, đối tượng, chưa có quan điểm khách quan, toàn diện trong đánh giá các nguy cơ, thách thức và cơ hội của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế ... Mặt khác trước tốc độ phát triển rất nhanh của cái gọi là “thế giới ảo” trên các trang mạng xã hội, nhất là những thông tin sai lệch, kích động chống phá của các thế lực thù địch đã dẫn đến những hiểu biết, nắm bắt thông tin sai lệch và có cách nhìn nhận khác nhau về đối tác, đối tượng trong chiến lược bảo bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, kết hợp đẩy mạnh công tác truyên truyền, giáo dục với công tác bảo vệ an ninh nhằm nâng cao nhận thức của mọi người trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đảm bảo cho họ phân biệt được đúng, sai và nhìn nhận một cách biện chứng về đối tác, đối tượng. Sàng lọc, tiếp nhận thông tin có lợi cho quốc gia, dân tộc, không tin, không cổ súy, lan truyền những thông tin xấu độc xâm hập vào trong cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tăng cường thông tin khoa học chính thống, định hướng dư luận về đường lối, chủ trương trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt những tác động đối với lực lượng vũ trang trong tổ chức, xây dựng lực lượng, xây dựng các phương án tác chiến cũng huấn luyện chiến đấu của quân đội.
         Bốn là, trong bối cảnh tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo đang diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp như hiện nay, việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo đối với nước ta đặt ra yêu cầu cao hơn trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Vậy làm thế nào để giữ vững chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, không để xảy ra xung đột vũ trang và chiến tranh. Kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, không nhượng bộ dưới bất kỳ hình thức nào; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; giữ vững quan hệ láng giềng thân thiện; giữ vững ổn định chính trị trong nước; tỉnh táo, cảnh giác, tránh tung tin bất lợi gây mâu thuẫn giữa các bên.
        Trước tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần phải có cách nhìn biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Tính hai mặt tồn tại, đan xen một cách phổ biến trong “mỗi đối tác” và “mỗi đối tượng”, đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn biện chứng khoa học để trong từng thời điểm cụ thể nhận biết rõ đâu là đối tác để tranh thủ hợp tác và đâu là đối tượng để đấu tranh, góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
                  

Luận với ông A về “Đảng bầu”



                                                                             
Mới đây, trong đoạn trả lời phỏng vấn Đài chân trời mới của tổ chức phản động Việt Tân, Ông Trần Quang A một người tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 tại Hà Nội nói với ông Trần Quang Thành của nhà đài rằng: “Ở Việt Nam cơ quan dân cử là Quốc hội nhưng thực ra không phải do dân bầu mà do Đảng bầu”?. Xin mạo muội luận với ông mấy điểm sau:
          - Thứ nhất: Vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN không phải tự ý Đảng nghĩ ra, tự gán ghép cho mình mà được khẳng định bằng thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Thực tiễn ra đời, lãnh đạo của Đảng 86 năm qua đã đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho dân tộc mà chính ông đã và đang được thụ hưởng. Việc ông được Đảng, Nhà nước, nhân dân cho ăn học thành tài những mong ông kế tục, cống hiến xây dựng đất nước là minh chứng rõ ràng nhất và chính ông cũng hiểu hơn ai hết điều đó. Mặt khác, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng không tự nhiên mà được hiến định trong hiến pháp nước CHXHCNVN 2013. Đây là cơ sở pháp lý tối cao được hợp thành bởi ý Đảng, lòng dân thông qua cơ quan lập pháp của nhân dân là Quốc hội mà không do ai ép buộc, áp đặt.
          - Thứ hai: Đảng lãnh đạo toàn diện cách mạng Việt Nam do vậy trong mọi hoạt động của Nhà nước, Quốc hội cần thiết đều có sự định hướng, lãnh đạo của Đảng là lẽ tất nhiên. Đảng lãnh đạo bằng đường lối đồng thời Đảng cử đội ngũ cán bộ tiên phong của mình tham gia bộ máy Nhà nước, Quốc hội nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động nhưng tuyệt đối không hề có sự ép buộc, áp đặt nào, tất cả đều tuân thủ các khâu, các bước, các quy trình dân chủ, công khai. Các ứng cử viên bầu cử đại biểu Quốc hội không bất kỳ ai đều trải qua các vòng hiệp thương theo luật định. Nếu họ thực sự có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, uy tín và thực sự tâm huyết với ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì thông qua tiếng nói của nhân dân họ mới được tín nhiệm giới thiệu vào danh sách bầu cử.
          - Thứ ba: Ông nghĩ lại xem, ông đang “đấu tranh” cho nền “dân chủ” nào? Dân chủ tư sản chăng? Hãy khoan bàn đến tính ưu việt hay hạn chế của nền dân chủ tư sản. Mà mời ông xem lại hoạt động các Đảng đối lập của họ khi tham gia tranh cử bầu Hạ viện, Thượng viện hay bầu Tổng thống, Thủ tướng…Đảng đối lập thông qua những quy trình nhất định đều cử người ưu tú nhất của mình để “thi thố” với “đối thủ” và khẳng định tài năng trước đông đảo cử tri, chứ không phải ngẫu nhiên kiểu “mạnh ai nấy bước”, “quân hồi vô phèng”, “dân chủ thả phanh” như ông nghĩ.
          Như vậy, việc ông vô cớ lớn tiếng khẳng định “Quốc hội ở Việt Nam không phải là cơ quan dân bầu mà do Đảng bầu” là ông đã cố tình vu cáo, đi ngược lại với sự thật./.
         


CẦN HIỂU RÕ HƠN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM



Công cuộc đổi mới ở Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã gần 30 năm tròn. Đó là một quá trình khó khăn, lâu dài, vừa tìm tòi, vừa thử nghiệm, mặc dù còn những thiếu sót nhất định, song về cơ bản có thể khẳng định: công cuộc đổi mới  của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, không hiểu sao, vì định kiến cá nhân, vì góc nhìn thiển cận, hay vì một lý do gì khác mà một số người xuyên tạc sự thật, “bôi đen” thực tế về “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” - một thành quả to lớn của công cuộc đổi mới. Để góp phần làm sáng tỏ đường lối quan điểm của Đảng, tác giả xin nêu và trao đổi ý kiến của mình về một số luận điểm được đăng tải trên các trang mạng trong thời gian gần đây.
          Thứ nhất, một số người cho rằng về tên gọi mô hình kinh tế ở nước ta là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - không giống ai”. Rõ ràng những người này đã không hiểu gì về lịch sử hình thành và phát triển cũng như những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là sự phát triển cao của kinh tế hàng hóa, đặc trưng lớn nhất của kinh tế thị trường là sự hoạt động tự do của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Tuy nhiên, không phải kinh tế thị trường ở tất cả các nước, các chế độ xã hội đều giống nhau. Ngoài những đặc điểm chung không thể thiếu, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà kinh tế thị trường ở mỗi nước cũng có đặc điểm và tên gọi khác nhau như: Kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ, kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản, kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa liên bang Đức, kinh tế thị trường đặc sắc Trung Quốc… Vậy nên, tên gọi “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam vừa thể hiện cái chung là thể chế kinh tế thị trường, vừa thể hiện cái riêng là định hướng xã hội chủ nghĩa.
          Thứ hai, một số quan điểm cho rằng, không thể kết hợp kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo họ, kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa như “nước với lửa” làm sao có thể kết hợp được với nhau. Căn nguyên vấn đề nằm ở chỗ những người này cho rằng, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản cho nên kinh tế thị trường không thể định hướng xã hội chủ nghĩa được. Nếu chọn kinh tế thị trường phải từ bỏ hệ tư tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nghĩa là họ đã đem đối lập hoàn toàn giữa kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cần phải thấy rằng, kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành quả chung của văn minh nhân loại, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau.Việc Đảng ta lựa chọn mô hình: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không có bức tường ngăn cách tuyệt đối, có thể làm tiền đề, điều kiện cho nhau. Nếu tuyệt đối hóa khả năng có thể chuyển hóa mâu thuẫn giữa chúng, cũng tức là phủ nhận khả năng phát triển.
Thứ ba, về tư duy đổi mới Đảng ta xác định: đổi mới kinh tế trước, rồi mới đổi mới từng bước về chính trị. Tuy nhiên, một số người lại cho rằng như vậy là mâu thuẫn với học thuyết Mác, vì rằng, học thuyết Mác luôn khẳng định chính trị là sản phẩm của một hình thái kinh tế xã hội. Ở đây, chúng ta không thấy có điểm gì mâu thuẫn giữa tư duy đổi mới của Đảng và học thuyết Mác, trái lại, tư duy đổi mới của Đảng là sự kế thừa và vận dụng đúng đắn, sáng tạo học thuyết Mác vào điều kiện lịch sử Việt Nam. Về mặt lý luận, học thuyết Mác chỉ ra giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ đó, kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị vì (kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, còn chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế; Cơ sở kinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống chính trị tương ứng và quy định hệ thống đó), chính trị tác động trở lại kinh tế biểu hiện tập trung ở quyền lực nhà nước và sức mạnh vật chất tương ứng. Về mặt thực tiễn, bài học kinh nghiệm rút ra từ sự sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô chính là sự sai lầm trong thứ tự và cách thức tiến hành đổi mới, đó là đổi mới chính trị trước rồi mới đổi mới kinh tế. Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn cho thấy tư duy đổi mới của Đảng là khoa học, kiên định với học thuyết Mác và phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam.
Thứ tư, một số người cho rằng việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là một sự phản bội chủ nghĩa Mác. Muốn chỉ ra sự ngây ngô về khoa học của “họ” ta phải quay về lý luận gốc của C. Mác về điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Trong quyển 1 bộ Tư bản, Mác đã trình bày điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Theo đó, để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại cần có 2 điều kiện, một là, phân công lao động xã hội và hai là, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Ở đây cần làm rõ điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hóa để tránh sự lầm lẫn đáng tiếc. Xét về mặt lịch sử, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa bắt đầu từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Sau đó, trong điều kiện của sản xuất lớn với sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, thì sự tách biệt kinh tế giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một chế độ sở hữu có tính tự chủ kinh doanh quy định. Do vậy, sẽ là sai lầm khi đồng nhất sở hữu tư nhân với sự độc lập tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất và coi đó là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Và như vậy, chừng nào còn tồn tại sự độc lập tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất, chừng ấy vẫn còn tồn tại sản xuất hàng hóa. Vận vào điều kiện thực tiễn nước ta, đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về trình độ kinh tế, lực lượng sản xuất ở nhiều trình độ khác nhau thì tất yếu phù hợp với trình độ ấy phải là hệ thống các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Do đó, sự tồn tại của sản xuất hàng hóa là tất yếu khách quan. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự từ bỏ nguyên lý của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về xóa bỏ chế độ tư hữu, mà ngược lại, đó là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý nói trên vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng, đã có một thời kỳ chúng ta nhận thức chưa đúng, chưa đủ xem kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản nên vội vàng xóa bỏ tư hữu. Song điều quan trọng là chúng ta đã nhận ra và sửa sai kịp thời, trả lại thực tiễn những gì vốn có của nó. Đối với một con người và đối với một đảng sai lầm là có thể, điều đó không đáng sợ, điều đáng sợ là con người đó hay đảng đó không nhận ra sai lầm và càng đáng sợ hơn khi không có ý chí để sửa chữa sai lầm đó.
                   Tóm lại, từ những luận cứ khoa học và thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới cũng như lịch sử kinh tế Việt Nam cho thấy rằng: phát triển kinh tế thị trường là điều tất yếu đối với tất cả các quốc gia muốn tồn tại và phát triển. Vấn đề đặt ra đối với việt Nam bây giờ không phải là lựa chọn phát triển kinh tế thị trường hay không, mà là lựa chọn một nền kinh tế thị trường như thế nào: kinh tế thị trường hiện đại, văn minh, năng động giàu sức sống và được định hướng về mặt xã hội hay kinh tế thị trường hoang dã, phi hiệu quả, xơ cứng và không được định hướng về mặt xã hội.


CHÍNH LỊCH SỬ TRUNG QUỐC ĐÃ PHỦ NHẬN LUẬN ĐIỂM « HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA TRUNG QUỐC » CỦA CÁC HỌC GIẢVÀ GIỚI BÁO TRUNG QUỐC




          Những năm gần đây Trung Quốc đã có những hành động và việc làm cụ thể của mình nhằm khẳng định chủ quyền phi lý của mình trên Biển Đông Tháng 5-2009, Trung Quốc gửi công hàm tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc và kèm theo một tấm bản đồ có vẽ 9 đoạn đứt khúc (còn gọi là "đường chữ U” hay "đường lưỡi bò”) thể hiện yêu sách bao chiếm gần như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế thừa nhận "vùng biển lịch sử” của họ được bao chiếm bởi "đường lưỡi bò”. Đến việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở vùng biển Hoa Đông, cho tới việc châm ngòi cho cuộc "khủng hoảng giàn khoan" năm 2014, rồi mới đây nhất bồi đắp, cải tạo và việc triển khai tên lửa đất đối không và cho máy bay quân sự hạ cánh xuống các đảo có tranh chấp thuộc chủ quyền của Việt Nam rõ ràng Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán và táo tợn hơn trong tranh chấp Biển Đông. Sự hung hăng ngày một tăng dần này của Trung Quốc không đơn thuần là hệ quả của những tính toán ngắn hạn hay sự bùng phát của chủ nghĩa dân tộc. Trên thực tế, Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi một chiến lược dài hơi, với mục tiêu cuối cùng là kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Với những tranh chấp đối với Việt Nam thời gian vừa qua càng làm cho căng thẳng trên biển đông trở nên phức tạp, ảnh hưởng tới an ninh trong khu vực và an ninh hàng hải trên. Đặc biệt tại các diễn đàn quốc tế các học giả, báo chí thậm chí của một số nhà lãnh đạo Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Nhưng một thực tế lịch sử đã chứng minh trong các tài liệu, Hội nghị quốc tế và Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử pháp lý chủ quyền của mình với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Còn  Luận điểm “Hoàng sa, Trường sa là của Trung Quốc” không chỉ bị Việt Nam, dư luận quốc tế mà ngay chính lịch sử Trung Quốc phủ nhận.
Theo chính sử Trung Quốc, trong suốt 22 thế kỉ, từ các đời Tần, Hán đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945), không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng biển Đông (Trung Quốc hiện nay gọi là biển “Nam Trung Hoa”) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ( Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Quốc, do chính người Trung Quốc ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
        Qua khảo sát một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Quốc là cuốn Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ do Hàn lâm viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 198, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài “ Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: “ Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Điều này cho thấy, xuyên suốt lịch sử của mình, các triều đại Trung Quốc chỉ tập trung mở rộng biên giới trên bộ, không tha thiết với việc mở rộng, bành trướng ra biển.
        Rõ ràng hơn, sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư phiên chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt, “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quần ( Nam Việt) và đặt 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ ( đảo Hải Nam). Trong thế kỉ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy ( cuối thế kỉ VI đầu thế kỉ VII ) mới đặt quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát còn cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa ( Vạn lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tý là có thể chìm đắm. Vạn lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.
        Đến đời nhà Đường, sách Đường thư nghệ văn chí có đề cập tới cuốn Giao Châu dị vật chí của Dương Phu chép những chuyện kì dị tại Giao Châu ( Việt Nam). Sách này chép,tại Thất Châu dương ( nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa ( nay là Việt Nam). Trong thời Nam Tống, cuốn Lĩnh ngoại đại đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “ Vạn lý Trường Sa ( Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ dương”. Giao Chỉ dương hay biển Giao Chỉ là vịnh Bắc bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa, Trường Sa lại còn lùi cách vịnh Bắc bộ hàng trăm dặm về phía Nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sakhoong thuộc về trung Quốc này thuộc về nước khác mà Trung QUốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.
Quảng Đông toàn đồ có giáp với Việt Nam cũng không có quần đảo Hoàng Sa
        Dưới đời nhà Nguyên, triều đình phong kiến Trung Quốc đã 3 lần đưa quân sang xâm lược nước ta. Quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch đánh Nhật Bản của đoàn quân Mông Cổ nổi danh bách chiến bách thắng từ đời Gengis Khan ( Thành Cát Tư Hãn ). Sau ba phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó tới Đại Việt cả trên lục địa lẫn các hải đảo. Trong  Dư địa chí  đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng dư đỗ  của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực Nam lãnh thổ Trung Hoa là đỏa Hải Nam, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
          Đến đời nhà Minh, Thiên hạ thống nhất chi đồ trong Đại Minh nhất thống chí (1461), Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ trong Hoàng Minh chức phương địa đồ (1635) đã vẽ phần cực Nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam.
Trong khi cuốn Vũ bị chí của Mao Nguyên Nghi gọi biển Đông là Giao Chỉ dương. Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỉ XV, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là địa bàn cư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt.
Đại Thanh nhất thống toàn đồ không có quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
          Đời nhà Thanh, từ thế kỉ thứ XVII đến thế kỉ XX, theo bản đồ Hoành Thanh nhất thống dư địa bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỉ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”.  Qua thế kỉ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc địa lý học giáo khoa thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: “ Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu ( Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 ( ngang Thanh Hóa) đến vĩ tuyến 18 ( ngang Nghệ An – Hà Tĩnh ).Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía Nam, từ vĩ tuyến 17 đén vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 ( Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh đế quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ( cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức.....). Hơn nữa, trong bộ Hải quốc đồ ký,  cuốn Hải lục  của Vương Bỉnh Nam ( 1820 -1842) chép: “ Vạn lý Trường Sa ( Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi An Nam”.
          Như vậy, hầu hết các tư liệu của trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh nhất thống chí  do Quốc sử quân nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào đề cập đến quần đảo Hoàng Sa. Trong cuốn Hải quốc văn kiến lục của Trần Luân QUỳnh ( năm 1744), vùng biển của Việt Nam tại biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt hải và Việt dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của chính phủ Anh, tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: “ Hoàng Sa không liên hệ gì với Trung Quốc”.
          Nhìn chung, các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ( mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, thực thi chủ quyền trong nhiều thế kỉ một cách hòa bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tài liệu chính sử nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỉ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỉ 20.

Bàn cái gọi là “Phong trào tự ứng cử” và cái “vòng gửi xe”



Lâu nay, hễ nói đến cụm từ “Phong trào” người ta dễ liên tưởng ngay đến các phong trào thi đua yêu nước mà ở đó nó cỗ vũ, động viên, khơi dậy, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tập thể. Nhằm cống hiến tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước. Hiểu một cách giản đơn, tạo ra phong trào là để mọi người hăng hái thi thố, thể hiện tài năng, tinh thần trách nhiệm trong công việc để vươn tới những đỉnh cao thành tích.
Ấy vậy mà, cụm từ “Phong trào” này mấy ngày qua đã có sự “chuyển hóa” trong tư duy của mấy “nhà dân chủ” đang kêu gọi, đang vận động, thúc đẩy nhằm tạo ra cái gọi là “phong trào tự ứng cử” và nghiễm nhiên, lợi dụng dân chủ, ông Nguyễn Quang A; Nguyễn Tường Thụy; Võ An Đôn…đã cố tình tạo ra “phong trào tự ứng cử” đại biểu Quốc hội khóa XIV. Họ cho rằng hành động đó đã “đóng góp” những tiếng nói quan trọng thúc đẩy hơn nữa dân chủ ở Việt Nam.
 Ơ hay, Quốc hội là cơ quan lập pháp tối cao được nhân dân sáng suốt bầu chọn, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, tiếng nói của nhân dân. Vậy mà giờ đây theo quan điểm của các “nhà dân chủ” lại trở thành cái chợ ai thích vào thì vào, ai thích ra thì ra theo kiểu “Phong trào” hay sao?. “Mong” các “nhà dân chủ” hãy tự soi lại mình, đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu quốc hội được quy định tại điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội để xem mình đã đủ đức, đủ tài chưa hay chỉ là kéo dài thêm “bảng thành tích chống phá” mà thôi. Chiểu theo những quy định trong điều luật này thì thấy rõ ngay mục đích tự ứng cử của các “nhà dân chủ” là đang cố tình lợi dụng dân chủ để tìm cách chống phá. Bởi động cơ của họ đã quá rõ ràng khi họ không hề dấu diếm mục đích tự ứng cử. Trong một bài trả lời phỏng vấn đài BCC Tiếng Việt, Nguyễn Quang A tuyên bố rằng ổng “tham gia ứng cử là để phá hoại cuộc bầu cử khóa XIV”; còn Nguyễn Công Vượng– một nghệ sỹ hài thì xem tự ứng cử như buổi đi diễn hài vô thưởng, vô phạt, Vượng cho rằng “được thì vui, không được cũng vui”….Như vậy, từ một Nguyễn Quang A ảo tưởng về cái gọi là dân chủ rồi điên cuồng chống phá đã kéo theo lắm kẻ adua mà chẳng biết mình đang hành động vì cái gì, cho ai. Thật là?
Mượn cái danh dân chủ để thực thi cái mục đích tối tăm, các “nhà dân chủ” vốn chẳng có chút uy tín gì với nhân dân đã nhanh chóng bị loại ở vòng hiệp thương lấy ý kiến, tín nhiệm của nhân dân nơi cư trú: Nguyễn Quang A (6/75 phiếu tín nhiệm), Phạm Văn Thành (0/72); Phan Văn Phong (1/68);  Nguyễn Xuân Diện (6/66); Võ An Đôn (29/86)….Để rồi các “nhà dân chủ” lại kêu gào rằng họ bị ép buộc, rằng phải tẩy chay các vòng hiệp thương….
Mấy ông nên nhớ rằng Dân rất công tâm, dân không bao giờ phán xét sai cho ai điều gì. Vì vậy, không thể có chuyện ông kêu gào rằng ông tài giỏi, ông tâm huyết vì nước, vì dân mà lại bị chính những người dân cùng nơi cư trú phản đối. Con người thế nào? Tốt hay xấu, tài năng đến đâu, tâm đức thế nào đều được phản ảnh trung thực, chính xác, công tâm qua “lăng kính” nhân dân. Bác Hồ từng dạy những người đảng viên rằng: trước nhân dân “không phải khắc lên trán hai chữ Cộng sản là được nhân dân tín nhiệm”. Đằng này, những kẻ háo danh, kiêu ngạo, hàm hồ, rỗng tuyếch như mấy “nhà dân chủ” kia mà lớn tiếng đòi nhân dân tín nhiệm?. Điểm lại “hành trang” của mấy “nhà dân chủ” khi tham gia “phong trào tự ứng cử” ta chẳng thấy tâm, trí, đức, mỹ ở đâu mà toàn chỉ thấy động cơ hèn mọn, thái độ cay cú, hành động điên cuồng…Chỉ dạo qua mấy điểm cũng đủ biết là các ông đã không qua nổi “vòng gửi xe” là chẳng có gì phải bàn cãi. “Phong trào tự ứng cử” cũng tự nhiên mà chết yểu luôn ở ngoài “vòng gửi xe”./.
Text Box: Điều 22 – Luật Tổ chức Quốc hội quy định Tiêu chuẩn Đại biểu Quốc hội:
1. Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
3. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu quốc hội.
4. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
5. Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.


         





GÓP PHẦN NHẬN DIỆN MỘT SỐ CHIÊU, TRÒ “BẨN”



Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn thường xuyên của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng vấn đề tôn giáo làm “ngòi nổ”, tạo nguyên cớ, để chống phá cách mạng nước ta. Âm mưu cơ bản, xuyên suốt của chúng là dựa vào tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động đồng bào các dân tộc, các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đối lập đồng bào các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng, gây rối loạn xã hội, mất ổn định chính trị, làm mất hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu thâm độc đó, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng một số thủ đoạn chủ yếu sau:
Một là, lợi dụng niềm tin tôn giáo để hướng tín đồ vào các hoạt động chống đối cách mạng. Chúng dương các chiêu bài “tự do tôn giáo”, “vì lợi ích của giáo hội”, “bảo vệ đạo pháp”, “bảo vệ chức sắc” để lôi kéo tín đồ tham gia trực tiếp vào các hoạt động chống đối cách mạng như biểu tình, gây rối, tham gia bạo động chính trị. Đồng thời, biến họ thành những tấm lá chắn để bảo vệ chúng trước sự đấu tranh xử lý của cơ quan chức thực thi pháp luật. Mặt khác, chúng tăng cường sinh hoạt tôn giáo, củng cố đức tin, nắm quần chúng tín đồ, tách họ ra khỏi ảnh hưởng của Đảng, chính quyền địa phương và dần dần làm cho họ trở thành lực lượng chính trị đối lập. Chỉ tính riêng từ năm 2001 đến nay, Tây Nguyên đã xảy ra 8 vụ bạo loạn chính trị (ngoài 2 vụ 2/2001 và 4/2004 còn 6 vụ khác, mỗi vụ có hơn 2.000 người tham gia, chủ yếu gắn với đạo “Tin Lành Đêga”. Trong thời gian từ ngày 30/4 - 6/5/2011, tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè (Mường Nhé, Điện Biên) đã có hàng nghìn người dân tộc Mông nghe theo kẻ xấu, đến tụ tập dựng lán trại để cầu nguyện, đón vua Mông với mục đích thành lập “vương quốc Mông”, gắn với tổ chức phản động lợi dụng “Tin lành Vàng Chứ”.
 Ngày 01/7/2012, tại thôn Trung Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, ông Phạm Thế Trận - một tín đồ công giáo dưới sự chỉ đạo của một số tổ chức phản động đã vận động tín đồ địa phương chống đối chính quyền, làm cho tình hình tôn giáo phức tạp đã gây ảnh hưởng xấu đối với sự bình yên của nhân dân, đối với khối đoàn kết toàn dân tộc. Ngày 22/5/2013, linh mục Đặng Hữu Nam, quản xứ Bình Thuận, xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) tổ chức cho hàng trăm giáo dân ở nhiều địa phương về nhà  thờ họ Trại Gáo cầu nguyện cho các bị cáo trong vụ án Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn phạm tội hoạt động chống phá chính quyền. Sự việc được các thế lực hậu thuẫn trên nhiều phương diện, kết quả kéo theo hàng trăm giáo dân quá khích, gây rối, chống đối chính quyền trong nhiều ngày, làm phức tạp tình hình an ninh, chính trị trong vùng.
Hai là, lợi dụng tổ chức giáo hội, biến nó trở thành công cụ thực hiện âm mưu và hoạt động chống đối cách mạng. Với các tổ chức giáo hội hợp pháp thì chúng tìm cách thao túng, lũng đoạn, thâu tóm quyền lực và hướng lái nó đi chệch đường lối tiến bộ đã được xác định. Đồng thời, dưới danh nghĩa giáo hội để đấu tranh đòi yêu sách và xúc tiến những hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Mặt khác, chúng tìm cách phục hồi tổ chức giáo hội cũ, thành lập tổ chức giáo hội mới đối lập để thực hiện mưu đồ lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng. Thậm chí chúng cấu kết với nhau để hình thành các tổ chức “liên tôn” nhằm có thể lôi kéo đông đảo chức sắc, quần chúng tín đồ ở nhiều tôn giáo khác nhau vào hoạt động chống đối. Các thế lực thù địch nước ngoài hỗ trợ tổ chức được gọi là “Giáo hội Việt Nam thống nhất” lợi dụng “Lễ cầu nguyện thiên niên kỉ “ (từ 8 - 14/2/2001) để thúc đẩy cái gọi là “Liên tôn” giữa Phật giáo, Công giáo và Phật giáo Hoà Hảo. Uỷ ban đó có tên gọi là “Uỷ ban liên tôn giáo đấu tranh vì tự do tôn giáo” do hoà thượng Thích Thiện Hạnh làm chủ tịch, Lê Quang Liêm làm phó chủ tịch và Linh mục Nguyễn Văn Lý làm tổng thư kí. Với tổ chức “Liên tôn” đó, trong buổi thuyết pháp tại chùa Từ Hiếu (Huế) ngày 16/12/2001, Thích Thái Hoà trắng trợn kêu gọi: Mỗi tăng ni, phật tử đồng thời phải là nhà chính trị, quân sự, văn hoá giỏi, phải biết tận dụng thời cơ để đẩy nhanh quá trình phục hoạt động của Giáo hội Việt Nam thống nhất, lật đổ đế chế Cộng sản.
Ba là, lợi dụng quan hệ tôn giáo để móc nối với các thế lực thù địch ở nước ngoài. Sử dụng các mối quan hệ của các tổ chức tôn giáo để tìm kiếm sự viện trợ về kinh tế, hậu thuẫn về tinh thần, thống nhất đường hướng và “quốc tế hoá” hoạt động chống đối của chúng. Khi đó, tính chất nguy hiểm và sức chống phá của chúng sẽ tăng lên gấp bội. Cụ thể như: Được sự chỉ đạo và hỗ trợ của Mỹ, một số tên phản động trong đạo Cao Đài như Lê Quang Tấn, Lê Ngọc Lượm đã viết và phát tán nhiều tài liệu phản động chống Đảng và Nhà nước, đòi đưa những phần tử cực đoan lên nắm quyền và phối hợp với số phản động trong Cao Đài ở hải ngoại để đẩy mạnh hoạt động chống đối.
Bốn là, lợi dụng giáo lý, giáo luật, sinh hoạt của các tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách của Đảng và Nhà nước. Các tôn giáo đều có giáo luật, giáo lý, các qui định cụ thể về việc tín đồ đến các cơ sở thờ tự của tôn giáo mình theo để hành lễ, nghe giảng về kinh kệ, về đạo pháp… Các linh mục, mục sư thay Chúa Trời giảng Kinh Thánh trong các ngày hành lễ; các Hòa thượng, thượng tọa, tăng ni thay mặt Đức Phật giảng về kinh kệ, Phật pháp… Đó là những điều cơ bản về giáo lý, giáo luật của tôn giáo, các thế lực thù địch hiểu rất rõ điều đó, chúng ra sức lợi dụng vấn đề này để dễ bề kích động, chống phá, lôi kéo các chức sắc, tín đồ tôn giáo chống đối chính quyền. Thời gian qua, ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai lệch tôn chỉ hành đạo của các tôn giáo, lồng các nội dung tuyên truyền nói xấu, xuyên tạc quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo suy giảm lòng tin vào sự đúng đắn của chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, vào sự lãnh đạo của Đảng. Ở mức độ cao hơn, sự lợi dụng này là nhằm lôi kéo quần chúng theo tôn giáo làm theo sự điều khiển, thao túng, chi phối của các thế lực thù địch, thực hiện những hành vi chống đối chính quyền, đập phá, thậm chi gây bạo động, xâm hại lợi ích của quốc gia dân tộc, lợi ích của cách mạng, lợi ích của nhân dân các địa phương và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.
Năm là, lợi dụng những sơ hở thiếu sót của chính quyền trong việc thực hiện chính sách tôn giáo để chống đối. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước để kích động tư tưởng bất mãn, chống đối chính quyền. Đẩy mạnh hoạt động tôn giáo trái pháp luật và bành trướng phát triển lực lượng. Đồng thời, thu thập cung cấp cho các thế lực thù địch nước ngoài để lấy đó làm bằng chứng nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Nhà nước ta.
Đặc biệt, chúng phức tạp hóa những vấn đề nhạy cảm, bức xúc trong xã hội như tranh chấp đất đai, quan liêu, tham nhũng,… để thổi phồng khuyết điểm, nói xấu chính quyền, làm mất uy tín và vai trò của Đảng; từ đó kích động, tiếp tay, can thiệp, gây mâu thuẫn, xích mích trong nhân dân, đối lập nhân dân với chính quyền, lừa bịp, mê hoặc, lôi kéo quần chúng tham gia hậu thuẫn cho lực lượng chống phá, bạo loạn lật đổ khi có thời cơ. 
Quá trình thực hiện, các thế lực thù địch đã móc nối, liên kết chặt chẽ giữa đối tượng ở trong nước với những đối tượng ở nước ngoài. Trong đó, đối tượng nước ngoài, thường giữ vai trò chủ mưu, chỉ đạo, tài trợ và hậu thuẫn cho đối tượng ở trong nước. Đối tượng cốt cán ở trong nước chủ yếu là các chức sắc có âm mưu và hoạt động chống đối cách mạng, trực tiếp triển khai, thực hiện âm mưu, ý đồ lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở nước ngoài.
Âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo chống cách mạng nước ta của các thế lực thù địch vô cùng thâm độc, tác động lớn đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, dễ làm cho quần chúng nhân dân dao động, mất cảnh giác, không nhận diện được sự chống phá của địch. Điều đó, làm cho việc đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta càng trở nên khó khăn, phức tạp. Vì vậy,  phải thường xuyên nêu cao tình thần cảnh giác, chủ động đấu tranh trên mọi mặt trận, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY




Các thế lực thù địch ở ngoài nước, các phần tử cơ hội chính trị trong nước hiện nay đang sử dụng triệt để mạng internet để truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, chống phá Việt Nam về tư tưởng chính trị. Theo báo cáo của cơ quan chức năng, hiện nay trên mạng internet có gần 600 website, blog tiếng Việt tuyên truyền chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chống chế độ XHCN của các tổ chức, cá nhân phản động người Việt hải ngoại, của số chống đối chế độ cực đoan, cơ hội chính trị ở trong nước. Trong đó có khoảng 80 website chống cộng quyết liệt, “triệt để” nhất, chuyên truyền bá thông tin chống chế độ XHCN ở Việt Nam, với số lượng thông tin nhiều nhất, cập nhật liên tục.
Nội dung một số quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch về tư tưởng chính trị trên các website của một số tổ chức phản động như sau:
Thứ nhất, phủ nhận hệ tư tưởng Mác - Lênin gắn với xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh - thực chất là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, phủ định học thuyết của Mác về hình thái kinh tế - xã hội gắn với phủ định mục tiêu, con đường đi lên CNXH và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Phủ nhận sự nghiệp đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, chúng cho rằng nền kinh tế thị trường chỉ thuộc về chế độ tư bản chủ nghĩa.
Thứ ba, phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của Mác, ca ngợi “tính ưu việt của chủ nghĩa tư bản”, tuyên truyền lối sống thực dụng tư bản chủ nghĩa, thực chất là tuyên truyền, kích động cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ xa rời mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Thứ tư, gắn phủ định học thuyết của Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ năm, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, khoét sâu vào những khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, hòng gây áp lực đòi Đảng từ bỏ vai trò lãnh đạo, thực chất là thực hiện âm mưu tạo dựng các tổ chức, đảng phái chính trị đối lập.



Không có cơ sở xã hội cho sự tồn tại của chế độ đa đảng ở Việt Nam



Trong thời gian qua, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch cùng với những kẻ bất mãn với chế độ chính trị XHCN ở Việt Nam đã ra sức rêu rao kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” nhằm “kích thích” sự bất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta nhất là trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 86 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2016) và thành công của Đại Hội đại biểu tòa quốc lần thứ XII của Đảng. Vậy thực chất luận điệu này là gì và ở Việt Nam có cơ sở cho sự tồn tại của đa nguyên, đa đảng hay không?
“Đa nguyên chính trị” là một khuynh hướng xã hội - triết học, tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các nhóm, đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong một xã hội nhất định. Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, thời điểm này giai cấp tư sản đóng vai trò là lực lượng xã hội tiến bộ, tích cực trong phong trào đấu tranh chống phong kiến, bảo vệ quyền bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản. Tuy nhiên, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, ý nghĩa tích cực ban đầu của đa nguyên, đa đảng dần biết mất. Thay vào đó, nó trở thành một thủ đoạn để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các nhóm, tổ chức độc quyền có lực lượng ngang bằng nhau và là lá bài “dân chủ” nhằm tạo ra những thứ cần thiết để che đậy chính sách và nền tảng của các hoạt động phản cách mạng, bảo đảm quyền lực và lợi ích của giai cấp tư sản.
Khi chủ nghĩa xã hội xuất hiện, đa nguyên chính trị trở thành phương tiện để các thế lực thù địch đánh lạc hướng tư tưởng của quần chúng thông qua việc đòi mở rộng quyền tự do dân chủ vô chính phủ, xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi thực hiện chế độ đa đảng… theo đó từng bước vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN. Từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX, có thể nói rằng, các thế lực thù địch đã thành công nhất định trong sử dụng chiêu bài “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để chống phá CNXH. Với việc chấp nhận bỏ Ðiều 6 trong Hiến pháp Liên Xô, dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là ÐCS Liên Xô dần đánh mất quyền lãnh đạo, Liên Xô nhanh chóng rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Hiện thực đau xót này cũng chính là bài học đắt giá về thực thi dân chủ sai nguyên tắc đối với các nước XHCN hiện tại cũng như cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ trên thế giới hiện nay.
Thực chất của “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là sự phân chia, tranh giành quyền lực của các lực lượng chính trị trong xã hội khi không có sự điều hòa về lợi ích; đó cũng chính là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp. Hiện nay, hầu hết các nước tư bản đều thực hiện đa nguyên, đa đảng. Bề ngoài thì các đảng chính trị có vẻ như được tự do, bình đẳng tranh cử để trở thành đảng cầm quyền, chi phối Quốc hội và Chính phủ. Nhưng thực chất bên trong, chỉ có những đảng nào được sự hậu thuẫn của các thế lực tư bản độc quyền mới có thể giữ được vai trò lãnh đạo và suy cho cùng thì tất cả đều bảo vệ cho lợi ích duy nhất của một giai cấp, đó là giai cấp tư sản. Thực tế cho thấy, Mỹ là quốc gia có 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Cộng hòa và Dân chủ) thay nhau cầm quyền, bởi chúng nhận được sự tài trợ của các tập đoàn kinh tế, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản. Theo đó, dân chủ ở Mỹ nói riêng và các nước tư bản chủ nghĩa nói chung cũng chỉ là nền dân chủ tư sản - một nền dân chủ phục vụ cho thiểu số, đó là các nhà tư bản tài phiệt. Nói cách khác, đa nguyên, đa đảng đã không những không mang lại lợi ích và dân chủ “thật sự” cho nhân dân mà còn vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, chế độ đa nguyên, đa đảng không phải là cơ sở để bảo đảm được dân chủ đích thực.
Đối với chủ nghĩa xã hội, dân chủ thuộc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bản chất của chế độ dân chủ XHCN là quyền làm chủ thực tế trên mọi lĩnh vực xã hội của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và thông qua sự quản lý của nhà nước XHCN. Cơ sở khách quan qui định bản chất chế độ dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và bản chất chính trị - xã hội của giai cấp công nhân. Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì CNXH, cho nên, nó chỉ có thể được thực hiện bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với toàn bộ xã hội thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản.
Từ lý luận cũng như thực tiễn cách mạng thế giới, cho ta thấy rằng, chế độ đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Cái gốc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai, hay nói cách khác là nó phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền. Vì vậy, sự rêu rao “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài” chỉ là những trò lừa mị dân muốn lái sự suy nghĩ và hành động của nhân dân đi theo hướng của lợi nhuận và sức mạnh của các tập đoàn tài chính đầu sõ, là sự đe dọa cuộc đấu tranh cho hòa bình, tiến bộ.
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến pháp (1980, 1992 và 2013) khẳng định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong các kỳ đại hội, Đảng luôn nhất quán về vấn đề này. Điều này hoàn toàn không xuất phát từ ý muốn chủ quan của Đảng hay của bất kỳ một lực lượng nào, mà nó được xây dựng trên cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Nhìn lại lịch sử dân tộc, trong bối cảnh cách mạng Việt Nam bế tắc về đường lối, dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức tiến tới thành lập một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930). Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc đã đoàn kết thực hiện thành công Cách mạng Tháng 8 năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến trường ký, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên CNXH.
Từ sau năm 1975 đến nay, nền chính trị nhất nguyên với vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam được củng cố và phát triển toàn diện. Đặc biệt, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước gần 30 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển; an ninh chính trị được giữ vững; đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao; dân chủ xã hội ngày càng được bảo đảm… Điều đó một lần nữa khẳng định nhất quán về vai trò lãnh đạo độc tôn của ĐCS Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước kia, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Như vậy, thể chế nhất nguyên - một đảng lãnh đạo ở Việt Nam hoàn toàn không đồng nghĩa với việc mất dân chủ như các thế lực thù địch đã và đang ra sức xuyên tạc.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Song, Đảng ta đã dám nhìn thẳng vào sự thật để rồi nghiêm túc tự chỉnh đốn, tự đổi mới để từng bước xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Chúng ta cũng không phủ nhận một thực tế rằng, trong xã hội vẫn còn những biểu hiện thiếu dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… nhưng đó chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, là những hạn chế cụ thể trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Không thể xem đó là bản chất của Đảng; cũng không thể coi đó là bản chất của nền dân chủ XHCN mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang gắng sức xây dựng; càng không thể xem đó như là cơ sở để tạo cớ đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.
Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay không có cơ sở xã hội cho sự tồn tại của chế độ đa đảng. Hệ thống chính trị ở Việt Nam vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.