Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

Lên đường nhập ngũ, nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của Thanh niên Việt Nam

Lên đường nhập ngũ, nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của Thanh niên Việt Nam 

Hôm nay (26/2), hàng vạn thanh niên trong cả nước sẽ lên đường nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an nhân dân. Từ sáng sớm, dòng người ngày càng đông tại tất cả các điểm giao nhận quân, không còn một chỗ trống nào xung quanh những khu vực tiễn tân binh lên đường.

Hành trang lên đường của những tân binh trẻ là chiếc ba lô màu xanh, trong đó có những vật dụng đơn giản nhất. Là ánh mắt dõi theo của những người bà, người mẹ, là sự động viên mạnh mẽ lên đường của những người cha, người anh, vẫn những người con thân yêu, hôm nay mặc trên mình bộ quân phục.

Sau nghi thức thắp sáng ngọn lửa truyền thống và đánh trống lệnh giao quân, các tân binh bước qua cánh cổng có tên gọi Cổng vinh quang. Với họ, đó là quyết định đánh dấu một hành trình vinh quang và đẩy thử thách phía trước để rèn luyện và trưởng thành. Có bạn vừa tròn 18 tuổi, có bạn vừa tốt nghiệp các trường Đại học, cao đẳng, tình nguyện xin lên đường nhập ngũ.

Trong số đó, có cô gái người dân tộc thiểu số đã tình nguyện viết đơn lên đường nhập ngũ đợt này. H'Havi Mlô SN 2004, ngụ tại buôn Ea Puk, xã Ea Sô, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk thi đỗ đại học cách đây 2 năm, chuyên ngành Sư phạm với dự định sẽ trở thành cô giáo. Tuy nhiên H’Havi quyết định tạm gác lại việc học, viết đơn xung phong đi nghĩa vụ quân sự vì muốn đứng trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quyết định này của H’Havi xuất phát từ mong muốn của bản thân, "dù không phải định hướng của gia đình nhưng cô vẫn nhận được sự ủng hộ của bố mẹ".

Trong lá đơn xin tình nguyện nhập ngũ, H'Havi nhấn mạnh, việc được tham gia nghĩa vụ quân sự "là điều thiêng liêng mà thế hệ trẻ chúng tôi nên làm".

H’Havi đã chuẩn bị những tư trang cần thiết để sẵn sàng lên đường. Chỉ ít ngày nữa, H’Havi sẽ trở thành nữ tân binh. Với cô, con đường binh nghiệp không hề dễ dàng nhưng với quyết tâm mạnh mẽ, H’Havi tin bản thân sẽ trưởng thành và vượt qua mọi thử thách.

Các tân binh sẽ có 2 năm trong môi trường rèn luyện của quân đội và công an. Các đơn vị nhận quân đã tiếp nhận những tân binh ngay trong sáng nay để bắt đầu vào thời gian huấn luyện chiến sĩ mới.

Sau thời gian này, các chiến sĩ sẽ phân về các đơn vị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công An và các địa phương để thực hiện các nhiệm vụ. Sau thời gian 2 năm, nhiều tân binh rèn luyện tốt nếu có nguyện vọng sẽ được xét duyệt trở thành những quân nhân hoặc những chiến sỹ Công An nhân dân.

Thời khắc lên đường nhiều cảm xúc, có những cánh tay quyết tâm, gửi gắm niềm tin của gia đình được gửi đi; có cả những giọt nước mắt khi phải tạm chia xa, nhưng trên tất cả là niềm tự hào và tin yêu.

Những tân binh hôm nay sẽ tiếp nối truyền thống cha ông. Tổ quốc gọi thanh niên lên đường, rèn luyện bản thân để góp công sức nhỏ bé bảo vệ đất nước.


Luận điệu xuyên tạc công tác tuyên truyền miệng

Luận điệu xuyên tạc công tác tuyên truyền miệng

Bài viết “Dư luận viên được Đảng giao nhiệm vụ mới” của Trường Sơn đang được phát tán rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động là một điển hình. Trường Sơn đã có những quan niệm sai trái về vị trí vai trò của công tác tuyên truyền miệng của Đảng. Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ hòng gây ra nhận thức lệch lạc trong xã hội, kích động những người kém hiểu biết, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị hùa theo chống phá Đảng và Nhà nước, gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần đề cao cảnh giác để không mắc mưu đồ của kẻ xấu.

Tuyên truyền miệng là dùng miệng để tuyên truyền trực tiếp với người nghe, không qua một phương tiện trung gian nào nhằm tuyên truyền một cách có hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của một giai cấp, lực lượng xã hội. Tuyên truyền miệng là một loại hình đặc biệt để tiến hành công tác tư tưởng, là một nghệ thuật - nghệ thuật tác động của người nói (nhà tuyên truyền) đối với người nghe (đối tượng tuyên truyền). Khi người nghe tiếp thu bài nói chuyện như cảm thụ một giá trị nghệ thuật nhằm thỏa mãn một nhu cầu về nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bản thân. Nghệ thuật tuyên truyền miệng được tiến hành chủ yếu bằng hoạt động của nhà tuyên truyền thông qua các yếu tố: sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng, nội dung, chất lượng thông tin, đề cương và lập luận của bài nói chuyện, nghệ thuật diễn đạt làm chủ lời nói, phong cách biểu cảm, bối cảnh sôi động của vấn đề tuyên truyền, sự học tập, rèn luyện trau dồi nghiệp vụ của báo cáo viên, tuyên truyền viên. Tuyên truyền miệng có thể tiến hành bất cứ ở đâu, lúc nào, thích hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh; đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng; có sức truyền cảm, thuyết phục, cổ vũ mạnh mẽ; có khả năng gắn với đời sống một cách sinh động; kết hợp giữa xây và chống, đấu tranh phê phán tiêu cực, sai trái; giải đáp thắc mắc của người nghe thông qua đối thoại trực tiếp. Hiện nay, cho dù có những phương tiện truyền thông hiện đại, nhưng tuyên truyền miệng vẫn là hình thức, phương pháp tuyên truyền đặc biệt quan trọng.

Khoa học kỹ thuật phát triển đã tác động đến tất cả mọi người vừa có nhu cầu, vừa có cơ hội để mở rộng giao lưu, tiếp nhận thông tin. Hàng ngày, chúng ta có thể tiếp nhận thông tin từ mọi phương tiện thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, sách, báo, điện thoại, internet,.… Tuy nhiên, trong tuyên truyền miệng, ngôn ngữ nói có ưu thế và mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội. Với công cụ là lời nói, tuyên truyền miệng có khả năng truyền đạt thông tin đến mọi đối tượng, với mọi trình độ khác nhau, kể cả đối tượng không biết chữ, không có khả năng tiếp thu thông tin bằng chữ viết.

Bên cạnh đó, người nói còn có thể kết hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ như: tư thế cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười... Mọi yếu tố trên khi được sử dụng linh hoạt sẽ bổ sung cho nhau và truyền đạt được những sắc thái tinh tế của ý nghĩ và tình cảm tác động đến người nghe. Chỉ có thông qua tuyên truyền miệng mới thực hiện tối đa cơ chế tác động giữa người nói với người nghe đồng thời qua đó có khả năng thu nhận thông tin tốt cả hai chiều: Kênh thông tin xuôi là nhà tuyên truyền nhằm truyền đạt nội dung đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhân dân một cách trực tiếp thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng ta. Kênh thông tin ngược (phản hồi) là qua phản ánh của quần chúng nhân dân, báo cáo viên nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, tình cảm của nhân dân để kịp thời điều chỉnh nội dung cũng như phương thức tuyên truyền sát với thực tiễn ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

 Với vai trò quan trọng này, công tác tuyên truyền miệng được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng. Hiện nay, Đảng ta đang xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở khắp các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội trên phạm vi cả nước với số lượng ngày càng tăng. Trong năm 2023, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trên địa bàn các tỉnh đã tổ chức được trên 17.000 buổi tuyên truyền thời sự, chính sách, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, bảo đảm tính toàn diện, tính định hướng. Nội dung tuyên truyền phong phú và đa dạng, bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, của tỉnh, tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Công tác tuyên truyền miệng đã góp phần quan trọng vào việc thông tin kịp thời các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, đồng thời đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp Nhân dân, qua đó góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đặc biệt là các khu vực biên giới, hải đảo.

Có thể khẳng định, hoạt động tuyên truyền miệng đã và đang tác động tích cực góp phần đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng Nhân dân, tạo sự thống nhất trong Đảng và toàn xã hội, cổ vũ các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân và thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của đất nước./.

Nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận CNXH ở Việt Nam góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hiện nay các thế  lực thù địch triệt để lợi dụng để gia tăng các hoạt động xuyên tạc, chống phá. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng hiện nay cần phải nhận diện phản bác các quan điểm sai trái thù địch sai trái xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, phong phú, có thể khái quát thành một số dạng phổ biến sau:

Thứ nhất, những quan điểm cho rằng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là không thực tế, bất khả thi.

Thứ hai, các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội là không phù hợp với Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, những quan điểm cho rằng ở Việt Nam hiện nay chỉ cần độc lập dân tộc, không cần chủ nghĩa xã hội. Theo họ, Việt Nam không cần "chủ nghĩa xã hội", chỉ cần độc lập dân tộc, nhân dân được giàu có, tự do, hạnh phúc là được.

Luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Một là, chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội không phải tư biện mà là hệ thống lý luận khoa học. Thế nào là một lý luận khoa học? một lý luận được coi là khoa học khi nó phản ánh được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng.

Hai là, việc kiên định, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không phải là giáo điều, máy móc như quan điểm của các thế lực thù địch đưa ra. Ở đây, họ cố tình phủ nhận điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc Việt Nam khi lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã chứng minh, khi đất nước mất độc lập, đã có nhiều sự thử nghiệm các biện pháp, con đường khác nhau để giải phóng dân tộc, nhưng những con đường đó đều thất bại. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập dân tộc.

Ba là, mỗi chế độ chính trị đều gắn với một giai cấp đóng vai trò là trung tâm đại diện cho lợi ích, xu hướng phát triển của dân tộc ở thời kỳ đó. Như vậy, không có độc lập dân tộc tộc chung chung, trừu tượng, mà độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn với những giai cấp nhất định. Không có quốc gia nào chỉ bảo vệ độc lập dân tộc mà không gắn với một chế độ chính trị. Vì dân tộc ở mỗi thời điểm nhất định bao giờ cũng gắn một với một giai cấp, khi lợi ích giai cấp cầm quyền thống nhất với lợi ích của cả cộng đồng quốc gia dân tộc thì độc lập dân tộc được giữ vững, đất nước phát triển.

Đó là những quan điểm sai trái, thù địch. Điều đó giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên mọi quân nhân luôn nhận diện và vững tin vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn./.

Bảo vệ quyền của người lao động để thúc đẩy quá trình hội nhập

Bảo vệ quyền của người lao động để thúc đẩy quá trình hội nhập

          Quyền của người lao động, trong đó có các quyền như thành lập tổ chức tại doanh nghiệp, thương lượng tập thể và không bị cưỡng bức lao động, là một bộ phận của hệ thống quyền con người mà Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và thực hiện thông qua các chủ trương, chính sách lớn.

          Thời gian gần đây, một số cá nhân và tổ chức phương Tây liên tục có các hoạt động vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ cáo buộc Việt Nam hạn chế quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể của người lao động tại các doanh nghiệp như: xuyên tạc Bộ luật Lao động Việt Nam có nội dung vi phạm quyền thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Không dựa trên cơ sở nào khẳng định Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoàn toàn không phải là một tổ chức độc lập để bảo vệ quyền lợi của người lao động, bịa ra rằng Việt Nam cưỡng bách lao động tù nhân, sử dụng lao động trẻ em. Có tổ chức đã chỉ trích Bộ luật Lao động Việt Nam không tuân thủ các nghĩa vụ trong CPTPP liên quan đến quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể…

          Đây hoàn toàn là những điều bịa đặt, những cáo buộc phi lý bởi nó không phản ánh thực tế khách quan, phủ nhận những nỗ lực vì con người của Việt Nam. Vấn đề quyền con người ở Việt Nam luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến nay.

          Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 25 công ước của ILO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2021) thể hiện nhiều ưu việt trong việc cụ thể hóa các quy định của công ước quốc tế về lao động. Các nội dung quan trọng nhất của cả 8 công ước cơ bản của ILO đều đã được phản ánh trong các quy định của bộ luật này. Trong đó có Công ước 98 là công ước cốt lõi, bản lề của ILO trong khuôn khổ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động.

          Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn tính tất yếu của việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay”.

          Những định hướng trên phản ánh quá trình nhận thức của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động. Trên cơ sở đó, Bộ luật Lao động lần đầu tiên quy định cho phép người lao động được thành lập tổ chức đại diện cho mình tại doanh nghiệp, ngoài Công đoàn Việt Nam, gọi là tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

          Theo chức năng quy định, Công đoàn Việt Nam tiếp tục đóng vai trò là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội/nghề nghiệp, làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động.

          Một bước tiến nữa trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động là việc Việt Nam phê chuẩn Công ước 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng 6-2020. Bà Corrine Vargha, Trưởng ban Tiêu chuẩn Lao động quốc tế của ILO cho rằng với việc phê chuẩn này, Việt Nam chứng tỏ cam kết mạnh mẽ trong công cuộc đấu tranh chống lại lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức. Còn ông Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam thì khẳng định: “Đây là minh chứng cho thấy Chính phủ và các đối tác xã hội của Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để có một khung khổ pháp lý tốt hơn nhằm mở đường cho Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững”.

          Những nỗ lực chủ động và tích cực của Việt Nam vì người lao động đã củng cố uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và hướng đến một xã hội công bằng, nơi các lợi ích của quá trình hội nhập và phát triển được chia sẻ một cách công bằng cho người lao động, những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Vai trò của đối ngoại trong giai đoạn chiến lược mới

              Vai trò của đối ngoại trong giai đoạn chiến lược mới

          Trong các giai đoạn của sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, trên cơ sở kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, việc không ngừng đổi mới tư duy trong hoạch định và triển khai chính sách đã trở thành một quy luật, một bài học quý và là nhân tố quan trọng dẫn đến thành công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đánh giá: “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khuôn khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác khác. Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ và toàn diện. Hội nhập quốc tế sâu rộng, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Vị thế, uy tín, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao”.

Tiếp tục tinh thần đổi mới trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại với mục tiêu phát triển đất nước Việt Nam thịnh vượng, có vị thế cao trong cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, công tác đối ngoại góp phần quan trọng vào bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn chiến lược mới, thể hiện ở những mặt sau:

          Thứ nhất, đối ngoại phải “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Lợi ích quốc gia - dân tộc đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam, tiêu chí cao nhất trong hoạt động đối ngoại. Đồng thời, khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi mà thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

          Thứ hai, đường lối đối ngoại đổi mới góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đưa đất nước vào thế có lợi nhất trước những chuyển biến mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, khu vực. Khẳng định trong giai đoạn chiến lược tới, đối ngoại cần “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. “Vai trò tiên phong của đối ngoại” không chỉ có ngoại giao mà cả quốc phòng, an ninh và các binh chủng khác, trong sự phối hợp liên ngành dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước.

          Thứ ba, đường lối đổi mới góp phần nâng tâm đối ngoại song phương và đối ngoại đa phương trong giai đoạn phát triển chiến lược. Về song phương, cần tiếp tục đưa các mối quan hệ đối ngoại song phương đi vào chiều sâu, đồng thời cần “tạo thế đan xen lợi ích” và “tăng độ tin cậy”. Đối ngoại đa phương cần “chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”, và “trong những vấn đề, các cơ chế quan trọng, có tầm chiến lược đối với lợi ích Việt Nam, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể”; coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng… tích cực xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể.

          Thứ tư, đường lối đối ngoại đổi mới khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Con người là yếu tố quyết định, mang tính đột phá nhằm bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ đối ngoại ngày một cao hơn trong tình hình mới.

          Thứ năm, đường lối thể hiện vai trò của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tính hiện đại của ngoại giao được thể hiện ở việc phát triển và nâng tầm phương thức triển khai công tác đối ngoại, trình độ của đội ngũ cán bộ, tổ chức bộ máy, cơ sở hạ tầng, công nghệ và trang thiết bị… đạt trình độ khu vực và vươn tầm quốc tế, giúp thúc đẩy hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc và thích ứng linh hoạt với chuyển biến của tình hình mới.

          Thứ sáu, đường lối đối ngoại đổi mới bảo đảm lợi ích, quyền lợi của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh… Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bào hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, có chính sách thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

CHI THỊ SỐ 30-CT/TW NGÀY 05/02/2024 CỦA BAN BÍ THƯ LÀ ĐÚNG ĐẮN VÀ KỊP THỜI

CHI THỊ SỐ 30-CT/TW

NGÀY 05/02/2024 CỦA BAN BÍ THƯ LÀ ĐÚNG ĐẮN VÀ KỊP THỜI 

Những ngày gần đây, trên trang blog Đối Thoại, đối tượng Trường Sơn tán phát bài Dư luận viên được Đảng giao nhiệm vụ mới”, nội dung xuyên tạc Ch thị số 30-CT/TW ngày 05/02/2024 của Ban Bí thư về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới; phủ nhận công tác truyền truyền của Đảng, Nhà nước ta

Chúng ta cần nâng cao nhận thức về Ch thị số 30-CT/TW ngày 05/02/2024 của Ban Bí thư về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới để thấy rõ tính cách mạng, khoa học, đúng đắn và kịp thời.

Qua 15 năm thực hiện Chỉ thị số 17-CT/TW, công tác tuyên truyền miệng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, hệ thống chính trị đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả, đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên truyền miệng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được tăng cường về số lượng và chất lượng, phát huy vai trò nòng cốt trong công tác tuyên truyền, góp phần đưa nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.

Tuy nhiên, một số cấp ủy chưa nhận thức, quan tâm đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng. Một số nơi chất lượng hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên còn hạn chế, thiếu sắc bén, tính thuyết phục, tính chiến đấu chưa cao, chậm đổi mới nội dung, phương thức; việc cung cấp thông tin có lúc, có nơi chưa đầy đủ. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, chế độ, chính sách đối với đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên chưa được quan tâm đúng mức.

Thời gian tới, để nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiếp tục phát huy thế mạnh của công tác tuyên truyền miệng đáp ứng yêu cầu tình hình mới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác tuyên truyền miệng

2. Đổi mới nội dung gắn với tăng cường tính định hướng, thuyết phục của công tác tuyên truyền miệng, nhất là những nội dung về nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Đảng, của đất nước, của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kết hợp hài hòa với cung cấp thông tin về tình hình trong nước và quốc tế, thực tiễn của địa phương, đơn vị, gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch; bảo đảm tính toàn diện, cân đối, thiết thực, sát hợp và hiệu quả trong công tác tuyên truyền miệng.

3. Đa dạng hóa phương thức, nâng cao hiệu quả các loại hình tuyên truyền miệng, hướng mạnh về cơ sở; kết hợp tuyên truyền trực tiếp với trực tuyến; tăng cường hình thức trực tiếp đối với lĩnh vực, địa bàn, vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

4. Thường xuyên kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở Trung ương, tỉnh, huyện; đội ngũ tuyên truyền viên nòng cốt ở cơ sở. Cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, kiện toàn, chế độ, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên thuộc phạm vi phụ trách, chú trọng địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 (SỬA ĐỔI)

         TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 (SỬA ĐỔI) 

Ngày 16/02/2024, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Bao giờ thì các tổ chức độc lập đại diện người lao động được thành lập?”; ngày 19/02/2024, trên trang blog Tiếng Dân tán phát bài “Tổ chức công đoàn nào đối với người lao động tự do?”, nội dung xuyên tạc việc thực hiện quy định trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) năm 2019 cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và việc đẩy mạnh thực thi các cam kết lao động trong các Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); yêu cầu Việt Nam sớm ban hành Nghị định về ‘tổ chức đại diện người lao động” nhằm thực hiện âm mưu xây dựng “công đoàn độc lập” ở Việt Nam

Chúng ta cần nâng cao nhận thức về quy định trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) năm 2019, đặc biệt là một số điểm mới, qua đó phê phán các nhận thức sai trái.

Bộ luật Lao động 2019 có một số điểm mới đáng chú ý như sau:

1. Về khái niệm

Bộ luật Lao động 2019 bổ sung, làm rõ các khái niệm: “người làm việc không có quan hệ lao động”, “phân biệt đối xử trong lao động” và “quấy rối tình dục tại nơi làm việc”. Từ đó quyền và nghĩa vụ của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) được bổ sung thêm, đảm bảo đầy đủ hơn và phù hợp với thực tiễn.

2. Đối tượng áp dụng

Nếu như Bộ luật Lao động 2012 chỉ quy định các vấn đề có liên quan đến mối quan hệ lao động NLĐ và NSDLĐ thì Bộ luật Lao động năm 2019 quy định thêm một đối tượng áp dụng, đó là “người làm việc không có quan hệ lao động”. Như vậy, cho dù không có mối quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ nhưng nếu thỏa mãn một số tiêu chí thì vẫn được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động 2019.

3. Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở

Bộ luật Lao động 2012 quy định rằng tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở.

Trong khi đó, ngoài Ban chấp hành công đoàn cơ sở, Bộ luật Lao động 2019 đã bổ sung thêm “tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Theo đó, công đoàn cấp trên trực tiếp sẽ không còn là tổ chức đại diện tập thể lao động nữa.

4. Học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ

Bộ luật Lao động 2012 không có quy định về thời hạn học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp trước khi ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ). Điều này gây bất lợi cho NLĐ khi NSDLĐ cố tình kéo dài thời hạn này. Ngoài ra, vì HĐLĐ chưa được ký kết nên NLĐ chưa được tham gia các loại bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Để bảo vệ NLĐ trong trường hợp nêu trên, Khoản 2 Điều 61 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “thời hạn tập nghề sẽ không được quá 3 tháng”.

5. Loại HĐLĐ

Kể từ ngày có hiệu lực của Bộ luật Lao động 2019 sẽ không còn loại hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 chỉ quy định 2 loại HĐLĐ, gồm: HĐLĐ không xác định thời hạn và HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn không quá 36 tháng.

            Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định rằng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết HĐLĐ mới; trong thời gian chưa ký kết HĐLĐ mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết (Điểm a khoản 2 Điều 20). Trong khi đó, theo Bộ luật Lao động 2012 không rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện như thế nào trong khoảng thời gian từ khi HĐLĐ cũ hết hạn cho đến khi giao kết HĐLĐ mới.

Xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam

              Xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam

Theo như Báo cáo của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cũng như trên một số trang mạng luôn có những nhận định sai trái, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam: Ở Việt Nam chưa có tự do tôn giáo thật sự, vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam chưa đạt được quy định của Công ước quốc tế; luật pháp Việt Nam có nhiều điều luật quy định “không rõ ràng” để kiểm soát, hạn chế tự do tôn giáo, sử dụng điều khoản về an ninh quốc gia với các “tội danh mơ hồ” để “đàn áp, hạn chế” tự do tôn giáo; các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước; Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đặc biệt với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số; chính sách nghĩa vụ quân sự của Nhà nước Việt Nam cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer; các nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo luôn bị nhà nước gây khó khăn trong hoạt động, bị hạn chế đi lại; ở Việt Nam có các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”, .v.v..

Những nhận định trên hoàn toàn mang tính bịa đặt, bóp méo sự thật và xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và đã không ngừng nỗ lực bảo đảm quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế.

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số phẩn tử phản động trong tôn giáo đang cố tình phớt lờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam là nằm trong mưu đồ của các thế lực chính trị phản động, muốn lợi dụng các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo như những công cụ mềm để đưa Việt Nam vào quỹ đạo ảnh hưởng, phục vụ cho lợi ích của các nước lớn, gây sức ép, “mặc cả” Việt Nam đánh đổi các vấn đề về chính trị và lợi ích kinh tế trong quan hệ quốc tế và từng bước cải cách Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam hoặc có thể tạo cớ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Do đó, các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo sự ổn định để phát triển đất nước theo mục tiêu mà dân tộc ta đã lựa chọn./.

Nghiêm chỉnh thực hiện luật nghĩa vụ quân sự là vinh dự, trách nhiệm của thanh niên Việt Nam

Nghiêm chỉnh thực hiện luật nghĩa vụ quân sự là vinh dự, trách nhiệm của thanh niên Việt Nam

Quân đội là trường học lớn của thanh niên, là niềm mơ ước và mục tiêu vươn tới của không ít thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Được học tập, rèn luyện trong quân đội là niềm vinh dự, tự hào, là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.

Mỗi thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự là vinh dự, tự hào, bởi thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là sự cống hiến một phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp của Đảng và toàn dân tộc. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Còn gì hơn khi được tôi luyện ở môi trường quân đội, một trường học lớn để hoàn thiện nhân cách, góp phần năng lực và phẩm chất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mỗi thanh niên coi đây là vinh dự của bản thân trước gia đình, quê hương và xã hội. Do đó phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để thực sự là những hình ảnh cao đẹp của một người lính. Quân đội cũng là môi trường để người lính được hoàn thiện những phẩm chất và năng lực cần thiết, để khi rời khỏi quân ngũ thì phẩm chất và năng lực đó lại được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, gia đình, cấp ủy, chính quyền địa phương cũng như các đơn vị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên để họ sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự một cách tự giác, cống hiến phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Thanh niên lên đường nhập ngũ là nghĩa vụ công dân, khi nhập ngũ họ được học tập những kiến thức cơ bản về Đảng, Bác Hồ, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… họ phải nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù từ đó nâng cao ý thức cảnh giác và đề kháng với những luận điệu xấu độc của kẻ thù cũng như tuyên truyền giáo dục đến mọi người cùng tham gia bảo vệ Tổ quốc.

Mặt khác, thực hiện nghĩa vụ quân sự cũng là cơ hội để các bạn trẻ khẳng định chính mình và trưởng thành hơn trong môi trường quân ngũ. “Quân đội là trường học lớn”, là môi trường thuận lợi để thanh niên được học tập những đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; được tiếp thu những kiến thức chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ hữu ích cho bản thân. Từ đó, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng lập trường chính trị vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.

Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc. Do vậy, thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm với Tổ quốc, với quê hương. Đất nước ta đã hoà bình, mọi người dân luôn hướng đến sự ấm no bình đẳng, các dân tộc đoàn kết cùng chung sống, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang gặt hái được những thành tựu to lớn. Do vậy, cùng với vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải luôn đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thể lực thù địch luôn tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề quốc phòng. Vì vậy, sẵn sàng tham gia Quân đội để góp phần bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân, chính là cách để tuổi trẻ thể hiện tinh thần yêu nước, thể hiện trách nhiệm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước./.

Cảnh giác âm mưu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc Chỉ thị số 30-CT/TW

Cảnh giác âm mưu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 05/02/2024 của Ban Bí thư về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới; phủ nhận công tác tuyên truyền của Đảng, Nhà nước ta.

 

Công tác tuyên truyền miệng là một phương thức tiến hành công tác tư tưởng của Đảng, là loại hình đặc biệt, kênh thông tin hiệu quả, “một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với Nhân dân”. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng và quan tâm đến công tác tuyên truyền miệng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, bằng nhiều hình thức hoạt động phong phú, công tác tuyên truyền miệng đã chủ động, nhạy bén, sáng tạo, bám sát diễn biến tình hình chiến sự và tư tưởng của quân dân cả nước; kịp thời phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, nhiệm vụ cách mạng; vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, động viên, cổ vũ bộ đội thông suốt về tư tưởng, đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, góp phần cùng toàn dân đánh thắng kẻ thù xâm lược...

Tuy nhiên, thời gian qua trên mạng internet các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã những có ý kiến xuyên tạc công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới; phủ nhận công tác tuyên truyền của Đảng, Nhà nước ta. Cụ thể, ngày 17/02/2024, trên trang blog Đối Thoại, đối tượng Trường Sơn tán phát bài “Dư luận viên được Đảng giao nhiệm vụ mới”, nội dung xuyên tạc Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 05/02/2024 của Ban Bí thư về công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới; phủ nhận công tác tuyên truyền của Đảng, Nhà nước ta. Thực chất đây là những thông tin xấu độc, cần đấu tranh loại bỏ.

Nhìn chung những thông tin xấu độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp. Đó chính là những thủ đoạn xảo quyệt và ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch. Vì vậy, chúng ta cần cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt chống phá của các thế lực thù địch.

Đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đang đặt ra yêu cầu mới đối với công tác tuyên truyền miệng. Cùng với đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, thực tiễn đó đòi hỏi công tác tuyên truyền miệng phải tiếp tục phát huy ưu thế, thực sự nhanh nhạy, sắc bén, hiệu quả trong cung cấp thông tin và đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận.


CẢNH GIÁC TRƯỚC CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG “TỰ DO NGÔN LUẬN” HAY “NGÔN LUẬN TỰ DO” ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG, CHỐNG PHÁ

CẢNH GIÁC TRƯỚC CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG “TỰ DO NGÔN LUẬN” HAY “NGÔN LUẬN TỰ DO” ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG, CHỐNG PHÁ

 

 

 Tự do ngôn luận là quyền chính đáng, khát vọng chân chính và nhu cầu của con người. Việc bảo đảm tự do ngôn luận là một trong những thước đo thể hiện sự văn minh, ưu việt của thể chế chính trị. 

          Thực vậy, Hiến pháp đầu tiên của nước ta ngày 09/11/1946, trong đó điều 10 hiến định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Không ngẫu nhiên mà khi hiến định 5 quyền tự do cơ bản đó của công dân, quyền tự do ngôn luận được xếp ở vị trí đầu tiên. Bởi Chính phủ cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã sớm nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo đảm tự do ngôn luận cho công dân là cơ sở để mở rộng, phát huy vai trò làm chủ của người dân và khơi nguồn sức mạnh ý chí, trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Thậm chí, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hiến định quyền tự do ngôn luận cho công dân sớm hơn trước 2 năm so với Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 271A, ngày 10-12-1948.

          Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do ngôn luận, trong thời kỳ đổi mới, phù hợp với các Hiến pháp năm 1992 và năm 2013, các văn kiện của Đảng, Nhà nước đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận của công dân. Suốt chặng đường đấu tranh, xây dựng và phát triển Việt Nam luôn phải đối mặt với các phần tử và thế lực thù địch cả ở trong và ngoài nước, trên nhiều lĩnh vực, mặt trận khác nhau, trong đó có mặt trận tư tưởng, thông tin. Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, vu khống các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực, phủ nhận các thành tựu đã đạt được, kể cả những thành tựu được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Chúng lợi dụng internet, tạo những “trận địa giả”, những mũi tấn công đầy mưu đồ đen tối trên mặt trận tư tưởng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận” với dã tâm, chủ đích là lợi dụng những vấn đề nóng trong xã hội, dễ gây bức xúc, dễ lan truyền rộng rãi để kích động 1 bộ phận quần chúng, tiến tới gây rối an ninh, trật tự xã hội, phá hoại các chủ trương, chinh sách phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước ta..

          Tại Hội nghị giao ban quản lý nhà nước của Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ phải nói về vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận không có nghĩa là tự do xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác. Tự do ngôn luận không phải là tự do xuyên tạc, bóp méo sự thật, là tự do mạo danh người khác trên mạng xã hội. Tự do ngôn luận cũng không có nghĩa là tự do bôi xấu, đưa hình ảnh dung tục, khiêu dâm, kích động bạo lực, kích động chiến tranh, kích động chia rẽ mối hận thù dân tộc. Chúng ta không cấm phát ngôn chính kiến trên google, facebook mà chỉ yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức”.

Vì vậy, việc đấu tranh phản bác việc lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, nhất là “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ thường xuyên tất yếu của cả hệ thống chính trị. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch để có những đối sách phù hợp. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục giác ngộ, nâng cao nhận thức của người dân trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch; đảm bảo cho họ phân biệt được đúng, sai; sàng lọc, tiếp nhận thông tin có lợi cho quốc gia, dân tộc, không tin, không cổ xúy, lan truyền những thông tin xấu, có hại cho Đảng, cho đất nước. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền thông tin chính thống, định hướng dư luận hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - một thứ giặc nội xâm nguy hại để giữ vững niềm tin của nhân dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN.

Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch./.

 

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua các thời kỳ.

 Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua các thời kỳ.

Trải qua 94 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo tài tình, đưa đất nước ta từ một nước nô lệ, thuộc địa trở thành đất nước có độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, Đảng và các vị lãnh tụ của Đảng đã chứng tỏ được bản lĩnh của mình trong những thời điểm khó khăn, nguy nan, qua đó tạo được niềm tin to lớn của nhân dân đối với Đảng…. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. Dẫu vậy, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị, đối tượng bất mãn vẫn không ngừng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối, hạ thấp uy tín lãnh đạo của ĐảNg

Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn của các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một trong những thủ đoạn mà các đối tượng thường sử dụng… họ cố tình đưa ra những thông tin mập mờ, nửa kín, nửa hở, những thông tin không có kiểm chứng, dựng nên những câu chuyện tưởng như bí mật để lôi cuốn sự tò mò, chú ý của dư luận để xuyên tạc, bội nhọ, dẫn dắt dư luận, nhất là đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo tiền bối có nhiều công lao của Đảng như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn… 

Các luận điệu xuyên tạc thường biểu hiện ở những khía cạnh sau: (1) Xuyên tạc đời tư cá nhân- cố tình dựng nên những câu chuyện có liên quan đến các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng rồi quy kết, bịa đặt rằng “các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối đều có nhiều vợ, nhiều con”, “có nhiều người tình” cả ở trong và ngoài nước. (2) Xuyên tạc mối quan hệ giữa các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bằng những giọng điệu phản động, bịa đặt. (3) Xuyên tạc và phủ nhận công lao, sự nghiệp cách mạng của các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối. Chúng rêu rao rằng con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam là sự “lựa chọn sai lầm” của những người lãnh đạo, khiến gây ra chiến tranh, nghèo đói, “huynh đệ tương tàn, Bắc Nam chia rẽ” (4) “Thần thánh hóa” tung hô các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối để so sánh với các thế hệ cán bộ đảng viên hiện nay rồi cho rằng “Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước tha hóa, biến chất và vi phạm” là cái “phổ biến” và “tất yếu” của một Đảng duy nhất cầm quyền…

Thực chất những luận điệu xuyên tạc đó không chỉ nhằm hạ thấp thanh danh, uy tín các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua các thời kỳ, mà là âm mưu sâu xa, nham hiểm của các đối tượng nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối để dẫn đến nghi ngờ, dao động rồi mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ, xuyên tạc về các bậc lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối để “mượn gió bẻ măng” với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước; phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc… là thủ đoạn mà các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn đã, đang và sẽ còn sử dụng. Tuy nhiên, bằng thực tế khách quan, bằng các tư liệu lịch sử chính thống, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những luận điệu đó, bởi:

Thứ nhất, tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức của các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi lại trong những bộ sách tư liệu lịch sử, tài liệu chính thống, chân thực, công bố rộng rãi ở trong nước và thế giới. Vì thế, những cái gọi là “Nguồn tin riêng” “Chuyện bây giờ mới kể” hay “Bí mật nội bộ” do cá nhân nào đó phát ngôn, tung lên mạng xã hội hay trả lời một số tổ chức báo chí hải ngoại… không thể là cơ sở, căn cứ hay “Thông tin tham khảo” để đánh giá, nhận định về thân thế, sự nghiệp của lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua các thời kỳ.

Thứ hai, các dấu mốc thắng lợi và thành công của cách mạng Việt Nam là những minh chứng hùng hồn, khẳng định công lao to lớn, cống hiến vĩ đại của các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua mỗi thời kỳ và mỗi sự kiện quan trong đó đều gắn liền với tài năng, đức độ, sự cống hiến hy sinh của các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối đó…

Thứ ba, các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng qua các thời kỳ nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng đã trở thành biểu tượng và niềm tin mãnh liệt trong trái tim và khối óc của đại đa số nhân dân Việt Nam. Tư tưởng, tình cảm và tấm gương của các vị lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng đã đi vào đời sống tinh thần xã hội cũng như ý thức, tâm thức của nhiều thế hệ người Việt. Những cống hiến, công lao to lớn của các lãnh tụ, lãnh đạo tiền bối của Đảng còn được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và nhân loại tiến bộ ghi nhận, tôn vinh. Đây là lý lẽ đanh thép, lên án, phản bác những tiếng nói lạc lõng, phản động, trái ngược với tình cảm của nhân dân Việt Nam.

Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

          Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch khi chúng cho rằng “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”, “thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế” …

Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong lĩnh vực chính trị, Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu.

Trong lĩnh vực kinh tế, Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác.

 

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này.

Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.


Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

 

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là con đường cơ bản xây dựng cơ sở kinh tế vững chắc cho chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi phải phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế; trong đó, phát triển kinh tế tư nhân là chủ trương đúng đắn để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Lợi dụng vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu nhằm xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng. Chúng cho rằng: phát triển kinh tế tư nhân là từ bỏ mục tiêu CNXH, là thừa nhận con đường CNTB. Để bao biện cho quan điểm này, chúng cho rằng kinh tế tư nhân mang hình thức sở hữu tư bản tư nhân, là sản phẩm chỉ có trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Vậy kinh tế tư nhân có phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản hay không? Phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay có phải là sự từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội hay không?

Về mặt lý luận: Theo góc độ kinh tế chính trị, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, ra đời cùng với nền sản xuất hàng hoá, là sản phẩm của nền sản xuất xã hội. Kinh tế tư nhân là một trong những thành phần kinh tế cơ bản hợp thành nền sản xuất xã hội, phản ánh những giai đoạn, trình độ phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Bàn về vấn đề nay, Lênin đã vạch ra tính chất quá độ của nền kinh tế của nước Nga và đã chỉ ra năm thành phần kinh tế - xã hội đã tồn tại ở nước Nga lúc đó: 1. Kinh tế nông dân gia trưởng; 2. Sản xuất hàng hoá nhỏ; 3. Chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4. Chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5. Chủ nghĩa xã hội. Như vậy, kinh tế tư nhân không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà đó là sản phẩm của nền sản xuất xã hội.

Về mặt thực tiễn: Trước đổi mới, nước ta chưa thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, cho rằng kinh tế tư nhân là tư hữu, là tư bản chủ nghĩa. Do đó đã không khai thác, phát huy được tiềm năng của đất nước vào phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã nhìn nhận đúng và có chính sách phù hợp để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hiện nay nước ta đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động và có những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40% GDP, 30% ngân sách nhà nước và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của cả nước.

Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá XII) đã chỉ rõ “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân; đồng thời đề ra những mục tiêu cụ thể là: Đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp; Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đến năm 2025 tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 - 65%.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã đánh giá những thành tựu sau 35 năm đổi mới đất nước, trong đó có sự đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân, qua đó đã chứng minh sự đúng đắn trong quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân. Đảng ta khẳng định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn có thể khẳng định rằng chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đúng đắn. Đây là bước đi quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH ở nước ta chứ không phải là sự sự từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội hay sự thừa nhận phát triển theo định hướng tư bản chủ nghĩa.

Để đấu tranh chống lại các luận điệu của các thế lực thù địch liên quan đến chủ trương phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về những đặc trưng kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ. Khẳng định sự tồn tại của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách quan.

Thứ hai, thấy rõ vai trò của kinh tế tư nhân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Từ đó thấy được sự đúng đắn trong quan điểm, chính sách của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân.

Thứ ba, nâng cao tinh thần cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch về việc phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta, không để bị mắc mưu, lôi kéo. Tích cực tham gia đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2024

Kiên trì chính sách “Bốn không” gắn với mở rộng hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh

 

Liên minh quân sự và mở rộng đối ngoại quốc phòng, an ninh là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự không có nghĩa là chúng ta khép kín, không mở rộng hợp tác, thúc đẩy quan hệ đối ngoại quốc phòng, an ninh. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; làm sâu sắc, hiệu quả hơn đối ngoại quốc phòng, an ninh; với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các quốc gia, nhất là các nước lớn; không theo bên này để chống bên khác; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc vào nước ngoài; Việt Nam làm bạn, làm đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 viết: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này cho phép Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm sự linh hoạt, chủ động ứng phó trong những tình huống phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, Việt Nam thiết lập, mở rộng ngoại giao với 189 trong tổng số hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, quan hệ đối ngoại quốc phòng ngày càng phát triển với hơn 80 quốc gia trải rộng cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét chứng minh đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, sáng tạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, là kết quả của sự hội tụ sức mạnh “ý Đảng, lòng dân” trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Đồng thời, mở ra những thuận lợi, cơ hội để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và con người, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Khuyến nghị được hiểu là đưa ra lời khuyên, lời đề nghị với thái độ trân trọng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích quốc gia dân tộc nhưng cái cách mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã làm hoàn toàn ngược lại. Họ mượn vỏ bọc “khuyến nghị”, lợi dụng “khuyến nghị”, làm méo mó, biến dạng “khuyến nghị”, xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh cũng như phủ nhận mọi nỗ lực và thành tựu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước trong thời gian qua.