Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN, VẬN DỤNG TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” HIỆN NAY

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận luôn là sợi chỉ đỏ, phương pháp luận soi sáng, dẫn đường cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp cách mạng vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá cách mạng nước ta, chúng triệt để lợi dụng triệt để vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những sơ hở, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và các cấp chính quyền. Do vậy, nhận thức và vận dụng linh hoạt tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” là việc làm cần thiết nhằm tuyền truyền nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời làm thất bại âm mưu chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch hiện nay.


1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vận và phương pháp dân vận là một tư tưởng lớn, ở tầm chiến lược cách mạng, thể hiện sâu sắc triết lý, minh triết Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người và trở thành phong cách dân vận Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Người đã kế thừa những giá trị tinh hoa trong truyền thống tư tưởng của dân tộc, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”[1]để thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi chủ thể tiến hành công tác dân vận phải có phương pháp dân vận cụ thể - phương pháp “Dân vận khéo”: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[2]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận biểu hiện trên những nội dung sau.

Thứ nhất, phương pháp dân vận của Hồ Chí Minh là “lấy dân làm gốc”.

Đây là nét đắc sắc tạo nên giá trị, cốt cách, đặc trưng, riêng trong tư tưởng, đạo đức, phong cách dân vận Hồ Chí Minh. Phương pháp “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh trong thực hiện công tác dân vận là tôn trọng quyền làm chủ thực sự của dân, làm lợi cho dân để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”[3]. Phương pháp “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí không chỉ dừng lại ở lời nói, mà nó còn biểu hiện sinh động qua thực tiễn cách mạng và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, phương pháp “lấy dân làm gốc” là cội nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Trên phương diện tư tưởng lý luận, Hồ Chí Minh đã làm mới nhận thức về phương pháp dân vận và Người đã trở thành “điển mẫu” về “dân vận khéo”. Làm sáng tỏ phương pháp này là một hệ thống các luận điểm ởsự vận dụng phương pháp duy vật biện chứng vào luận giải các vấn đề xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Người nêu lên và đã khẳng định hết sức rõ ràng, khoa học, luôn nhấn mạnh tính nhất quán với vai trò là chủ thể của nhân dân(chủ thể tổ chức và chủ thể hành động), là gốc rễ của mọi vấn đề cách mạng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân”[4].

Thứ hai, phương pháp phát huy dân chủ.

Dân là gốc của nước, là chủ thể của mọi hoạt động sáng tạo ra lịch sử, là chủ vận mệnh của nước nhà, do đó dân chủ là tiền đề nhận thức về dân vận. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân chủ”[5], chỉ với tiền đề như vậy đã hàm chứa sâu sắc, biểu đạt những vấn đề cốt yếu thể hiện rõ tính chất, bản chất của chế độ nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đồng thời, việc xác định phát huy dân chủ là phương pháp dân vận hiệu quả nhất nó không chỉ dừng lại ở cơ sở lý luận của dân vận, mà theo Hồ Chí Minh điều đó còn chi phối đến thái độ, hành vi, phương pháp ứng xử của người làm dân vận trong quan hệ với nhân dân và là điều kiện, nguyên tắc, mục đích của toàn bộ hoạt động dân vận.

Trong hoạt động dân vận cần phải thực hiện tốt phương pháp phát huy dân chủ mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc đều hướng đến dân, tất cả vì dân, phát huy dân chủ của dân trên moi lĩnh vực, phương pháp đó phải thực sự trở thành văn hóa đạo đức trong thái độ ứng xử, hành xử với nhân dân của cán bộ, đảng viên nói chung và những người làm công tác dân vận nói riêng. Trong nhận thức và tiến hành công tác dân vận, phải luôn coi dân chủ là sinh khí, là linh hồn của dân vận, là bản chất, mục đích, là động lực của dân vận và là phương pháp quyết định đến hiệu quả công tác dân vận trong mọi tiến trình lịch sử - xã hội của cách mạng.

Thứ ba, phương pháp tuyên truyền, vận động thuyết phục nhân dân.

Đây là phương pháp quan trọng của công tác dân vận, tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của nhân dân. Chất lượng, hiệu quả tuyên truyền phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của cán bộ dân vận đi tuyên truyền và theo Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”[6]. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ tuyên truyền phải suy nghĩ để hiểu rõ, nắm sâu về nội dung, hình thức tuyên truyền, phải biết cách nói đơn giản, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có cuối, nhớ được không nói dài, để khi nói, khi viết ai cũng hiểu được, nhớ được và làm được; phải lễ độ, xưng hô phù hợp, thái độ phải mềm mỏng, đúng mực. Quan trọng hơn, với Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, răn dạy cán bộ phải tu dưỡng, rèn luyện thái độ ứng xử với dân, phải thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, điều đó “sẽ giúp cho kết quả tuyên truyền lên gấp bội”[7].

 Đặc biệt, trong công tác tuyên truyền cán bộ dân vận phải tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật để dân hiểu đúng bản chất sự vật và khi đó nhân dân sẽ nhận thức rõ và thi hành nhanh chóng, chính xác, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe”[8].

Thứ tư, phương pháp tập hợp, tổ chức, lãnh đạo quần chúng.

Để cách mạng thắng lợi thực sự, Đảng ta phải có phương pháp tổ chức, tập hợp quần chúng nhân. Về cách tổ chức công việc, theo Hồ Chí Minh, đó là tổ chức sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước công việc cụ thể, thật hợp lý, khoa học mang lại hiệu quả cao. Trước hết, bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải có kế hoạch cẩn thận; kiên quyết phê phán cách tổ chức công việc chủ quan tùy tiện, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, không ngăn nắp, luộm thuộm, chồng chéo, làm không đến nơi đến chốn.

Phương pháp tổ chức phải thật sự khoa học, hiệu quả, có mục đích và kế hoạch rõ ràng, thiết thực và phải dựa trên nền tảng dân chủ, việc gì cũng phải bàn bạc, công khai với nhân dân. Để phương pháp tổ chức thực sự khoa học thì người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy”[9]. Thực tiễn khách quan luôn vận động, biến đổi và nảy sinh những vấn đề khó lường. Đứng trước những vấn đề phát sinh đó, theo Hồ Chí Minh cán bộ phải đặt câu hỏi: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”[10], có nghĩa là phải hướng mạnh về cơ sở, phải điều tra rõ ràng, cụ thể rồi mới quyết định và thực hiện đến nơi, đến chốn, kiên quyết chống bệnh thành tích, phô trương, hình thức.

Thứ năm, phương pháp kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm.

Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là việc đề ra chủ chương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà điều quan trọng là phải tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra”[11]. Do đó, kiểm tra, giám sát là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng, có tính chất quyết định, điều này “sơ sài” chắc chắn sẽ “hỏng việc”.

Phương pháp kiểm tra có hiệu quả phải phụ thuộc rất lớn vào cán bộ phụ trách dân vận. Về điểm này Hồ Chí Minh yêu cầu: “Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín”[12]. Để nâng cao hiệu quả phương pháp kiểm tra, giám sát cần phát huy vai trò của quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia, hỗ trợ cán bộ trong thi hành nhiệm vụ, bởi vì: “Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết”[13].

Công tác kiểm tra không phải khi có vụ việc hay có biểu hiện tiêu cực mới thực hiện, mà phương pháp kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên; phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra không nên chỉ dựa vào các báo cáo, mà phải đi đến tận nơi, phải “mắt thấy, tai nghe”. Thực hiện đúng các nguyên tắc: minh bạch, dân chủ gắn liền với kỷ luật, đi đúng đường lối của quần chúng. Đặc biệt, khi thi hành xong thì: “phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”[14], đó là những việc làm thường xuyên trong phương pháp kiểm tra, giám sát khi tiến hành công tác dân vận.

Thứ sáu, phương pháp nêu gương.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu và thiết thực. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người cán bộ làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[15]. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải làm kiểu mẫu về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong mọi lúc, ở mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo, tức là phải nêu gương bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, làm mực thước cho quần chúng noi theo. Đó là tác phong quần chúng biểu hiện ở sựbám sát thực tiễn, gần gũi nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, cán bộ dân vận phải là người có đạo đức hành động và nêu gương. Bởi, theo Hồ Chí Minh: “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”[16].Đồng thời, để vận động bằng phương pháp nêu gương trong công tác dân vận, Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[17].

2. Vận dụng trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” hiện nay

Thấm nhuần tư tưởng của Người về phương pháp dân vận, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được việc vận dụng phương pháp dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn còn có những hạn chế nhất định như: một số cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, chưa có đầy đủ phẩm chất, năng lực, tác phong làm dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh; có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái phẩm chất, đạo đức, lối sống, xa rời quần chúng nhân dân, không phát huy tốt vai trò tiền phong gương mẫu, đi đầu trong công việc, lời nói không đi đôi với việc làm. Trước những khó khăn phức tạp, đặc biệt trước âm mưu, thù đoạn chống phá của các thế lực thù địch hoang mang, dao động, mất niềm tin vào nhân dân... Những hạn chế đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả công tác dân vận, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá cách mạng nước ta. Chúng triệt để lợi dụng triệt để vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những sơ hở, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và các cấp chính quyền; kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm rạn nứt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang với nhân dân. Vì vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận, một mặt phải tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, phải vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

 Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” hiện nay cần:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo và chính sách đại đoàn kết dân tộc… để dân biết, dân hiểu, để dân đề cao cảnh giác và tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, khoét sâu vào các mâu thuẫn trong xã hội chống phá cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vận dụng tư tưởng chủ tịch Hồ Chí Minh về phương pháp tuyên truyền, vận động thuyết phục nhân dân cần tăng cường giáo dục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng minh chứng cụ thể từ những thắng lợi trong lịch sử dân tộc và trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm xuyên tạc hệ tư tưởng của xã hội ta... để từ đó giúp nhân dân thấy rõ những tác hại của những âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thu địch và thúc đẩy mọi người dân tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vận dụng quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận “lấy dân làm gốc”. Vì vậy, để nhân dân yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp khi ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, thực hiện các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đời sống, phải hướng đến giải quyết nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân, “đặt lợi ích nhân dân lên trên hết”; loại bỏ các yếu tố “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”; tổ chức các hình thức phù hợp để người dân tham gia các khâu của quá trình ban hành chủ trương, chính sách; tạo cơ chế cho người dân tham gia giám sát, phản biện, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để “ý Đảng” hợp với “lòng Dân”. Một trong những mũi nhọn chống phá của các thế lực thù địch là nhân dân vùng dân tộc thiểu số, khó khăn, nơi nhận thức còn hạn chế cần quan tâm thực hiện các chính sách cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng biển bãi ngang, hải đảo, những nơi còn nhiều khó khăn, các hộ gia đình chính sách, gia đình nghèo. Khi thực hiện các dự án có liên quan đến thu hồi đất của người dân, cần phải công khai, minh bạch, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, quan tâm đến quyền lợi của người dân thuộc diện có đất thu hồi, không để người dân bị thua thiệt. Phải thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy, đó là “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến dân”.

Thứ ba, trước âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, công tác dân vận có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, ngăn chặn, đấu tranhvạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, cần quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, chú trọng xây dựng đạo đức trong Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên để cán bộ, đảng viên thực sự là gương sáng để nhân dân noi theo đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận. Tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu để vận động nhân dân noi theo “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước (dân vận chính quyền); thực hiện quyết liệt và có hiệu quả hơn nữa cải cách thủ tục hành chính đi liền với xây dựng đạo đức, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự gần dân, trọng dân, học dân, có trách nhiệm với nhân dân. Cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp cao, người đứng đầu phải thường xuyên tiếp dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân và đối thoại với nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm những cán bộ tham nhũng cán bộ có biểu hiện tiêu cực, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong giải quyết công việc cho người dân; tạo điều kiện để người dân giám sát cán bộ, góp ý, đánh giá cán bộ cả ở nơi cư trú.

Thứ tư, phải chú trọng đến công tác phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn điểm nóng chính trị - xã hội trong nhân dân. Vì vậy để tập hợp, lãnh đạo quần chúng nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần chủ động, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn điểm nóng chính trị - xã hội để làm yên lòng dân. Công tác phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn điểm nóng chính trị - xã hội phát sinh cần phải bắt đầu từ việc giải thích cho dân biết, dân hiểu đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Đi sâu, đi sát vào đời sống nhân dân để nắm được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thấy được những nguy cơ tiềm ẩn xẩy ra điểm nóng để kịp thời có giải pháp ngăn chặn, trách để các thế lực thù địch, phần tử phản động cơ hội chính trị tập hợp, lôi kéo. Thực tiễn cho thấy, một trong những biểu hiện ban đầu tạo nên điểm nóng chính trị - xã hội là tình trạng khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện kéo dài mà ngoài nguyên nhân trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế của người dânthì nguyên nhân còn lại là do những yếu kém, tiêu cực của chính quyền địa phương. Do đó, để ngăn chặn điểm nóng chính trị - xã hội xẩy ra, công tác dân vận phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tạo các diễn đàn trao đổi, thảo luận trong các tổ chức quần chúng về những nội dung: chống tự phát, quá khích dẫn đến manh động, chống việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí để có những hoạt động trái pháp luật. Bên cạnh đó, việc tăng cường đối thoại, trả lời, giải đáp thắc mắc cần được tiến hành công khai, dân chủ, thuận lợi để người dântự giác thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.

Như vậy, việc nhận thức của các chủ thể trong tiến hành công tác dân vận thông qua vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp dân vận của Hồ Chí Minh sẽ góp phần quan trọng trong tuyền truyền đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chủ trương chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước đến với mọi người dân, để dân hiểu, dân tin, dân làm và dân theo. Đó chính là biện pháp hay, phương thức hữu hiệu để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực hiện nay, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, đồng thời xây dựng môi trường có sức đề kháng tốt để đủ sức đẩy lùi những con virút độc hại, những tiếng kêu lạc lõng ra khỏi đời sống nhân dân trong giai đoạn hiện nay.



[1]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,  tr. 232.

[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 234.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 268

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 232

[5]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 232.

[6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập,  tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,, tr. 191.

[7]. Sđd, tr. 191.

[8]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 172.

[9]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 332.

[10]. Sđd, tr. 279.

[11]. Sđd, tr. 636.

[12]. Sđd, tr. 637.

[13]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 192.

[14]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6,  Nxb CTQG, Hà Nội, 2011,, tr. 233.

[15]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 284.

[16]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 223.

[17]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 672.


CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Vấn đề lý luận, thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam luôn là đề tài nóng bỏng mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động quyết liệt chống phá, thực hiện mục tiêu xóa bỏ, lật đổ. Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.


Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, bảo vệ, đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” hướng lái, xóa bỏ CNXH và con đường đi lên CNXH là nội dung cơ bản, qua đó khẳng tính khoa học, cách mạng, củng cố niềm tin, sự kiên định tư tưởng, hành động vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị, không chỉ xoay quanh những vấn đề lý luận cốt lõi nhất mà còn gắn với thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. Vậy nên, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phải đấu tranh liên tục, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch núp dưới mọi hình thức của các thế lực đối lập. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói đến sự lo sợ của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản như “bóng ma ám ảnh châu Âu” và sự liên kết chống phá quyết liệt của chúng. Trong khói lửa của cuộc nội chiến có sự tham gia can thiệp của 14 nước đế quốc hòng bóp chết nhà nước vô sản Nga non trẻ đầu tiên trên thế giới, V.I.Lênin đã khẳng định một vấn đề có tính quy luật là: Một cuộc cách mạng không biết tự vệ mình là cuộc cách mạng tự sát. Theo tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tất các các giai đoạn phát triển, các thế hệ cách mạng trên toàn thế giới đều phải kiên quyết, kiên trì, không ngừng đấu tranh bảo vệ sự nghiệp cách mạng chân chính của giai cấp, của dân tộc, trong đó có cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận bảo vệ mục tiêu, con đường đi lên CNXH.

 Đảng ta, ngay từ khi ra đời đã xác định đúng đắn và đấu tranh kiên quyết bảo vệ đường lối, chống lại các tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh trong các lĩnh vực lý luận, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật…. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong lịch sử của Đảng đã góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Đồng thời, đấu tranh về tư tưởng, lý luận cũng đã góp phần phát triển các quan điểm lý luận đúng đắn, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hơn 35 năm qua, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới, mang tính phức tạp và quyết liệt hơn. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của CNXH ở một loạt các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu là cái cớ để các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tung ra các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận sự đúng đắn, khách quan của CNXH trên toàn thế giới với tư cách là một học thuyết, một chế độ xã hội, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá CNXH. Sự kiên định nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên con đường dân tộc, nhân dân ta đi tới là đề tài để các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bằng đủ các luận điệu sai trái, thù địch khác nhau. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của truyền thông xã hội, internet toàn cầu, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, những vấn đề nóng bỏng trước những tác động của an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội như: Xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh…, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch chống phá này, thể hiện ở số vấn đề sau đây:

 Thứ nhất, xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH. Những chiêu bài mà chúng đang sử dụng không mới, nhưng hết sức tinh vi và thâm độc, tập trung vào việc đưa ra những lập luận, tuyên truyền, cổ vũ từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của ĐảngĐể phủ định học thuyết Mác - Lênin, các thế lực thù địch cho rằng, học thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và phù hợp trong một chừng mực nào đó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó. Lý luận này không còn phù hợp với thế kỷ XX và đặc biệt trong điều kiện ngày nay càng không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Từ đó, họ tuyên truyền xuyên tạc, rêu rao: chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không phù hợp ở Việt Nam và cần loại bỏ. Gần đây, trước những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước, họ tuyên truyền luận điệu: Việt Nam đang không chỉ bế tắc về kinh tế mà còn bế tắc cả về tinh thần; và rằng, không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa. Họ cho rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác chỉ là một mớ lý thuyết suông về một chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Do vậy, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước.

 Thứ haixuyên tạc CHXH, mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Với cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định CNXH, mục tiêu, con đường đi lên CNXH”. Họ cho rằng: ai cũng thấy là CNXH đã ở vào giờ thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện CNXH tại Việt Nam đã hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 - 1985) thực hiện triệt để dù cố gắng “đổi mới” 10 năm sau đó (1985 - 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không phải kinh tế thị trường định hướng XHCN…

 Thứ ba, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp…, cho rằng đó là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ, “xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH.

 Thứ tưquan điểm, luận điệu lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, là kết quả mang lại do đi theo con đường CNXH. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, còn có những hạn chế, yếu kém, thiếu sót, sơ hở trong đời sống về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, ô nhiễm môi trường… Các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, xuyên tạc, quy chụp rằng đó là bản chất của CNXH, kết quả do con đường đi lên CNXH mang lại…; làm cho những người không có nền tảng tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, hoang mang, dao động, thậm chí xét lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta từ bỏ con đường đi lên CNXH. Những luận điệu sai trái, xuyên tạc này tác động làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hồ nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào CNXH, vào con đường đi lên CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu này, chúng ta thấy:

Một lànền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, hướng tới một xã hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học thuyết đó còn chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận sắc bén, ngọn cờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin[1].

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược, chỉ thị, nghị quyết đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc, duy ý chí hoặc xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ phạm phải sai lầm, chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và thực hiện công việc hiệu quả thấp, thất bại. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống[2].

 Hai làđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân. Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc[3].

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

Ba là, vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và dân chủ. Đảng chính trị được tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Với nghĩa chung nhất, phổ biến, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Còn đảng là tổ chức chính trị mang bản chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Nói cho cùng, bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí có nhiều giai cấp, sự xuất hiện của một đảng hay nhiều đảng chính trị cũng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc chính trị hay xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị, đảng nào cũng đều hướng tới việc cầm quyền, trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước.

 Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một giai cấp, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Trong thực tiễn, có thể là một đảng lãnh đạo (như Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội), hoặc nhiều đảng cạnh tranh lãnh đạo, quyền lực nhà nước (như một số nước tư bản phương tây). Không có một đảng lãnh đạo hoặc không lập được liên minh lãnh đạo giữa các đảng thì tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn. Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị là dành cho số đông hoặc dành cho thiểu số và lịch sử các hình thái dân chủ không nằm ngoài điều đó. Dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản nhằm chống lại đông đảo những người lao động. Ở đó, dân chủ chân chính là thứ dân chủ dành cho thiểu số, không triệt để ở mọi cấp độ và tính chất, vì chỉ trong tay bộ phận thiểu số là giai cấp tư sản chứ không phải quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Họ nói, dân chủ là phải đa đảng nhưng thực tế lại không như vậy. Chẳng hạn, ở một số nước tư bản như Hoa Kỳ - được mệnh danh là “thiên đường tự do”, trong suốt hàng trăm năm qua kể từ khi ra đời, trong bối cảnh nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng khó ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa hai đảng đó, và nếu có khác nhau thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách nhất định mà thôi.

Trong CNXH, dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân, vai trò chủ thể của Nhân dân. Nhà nước là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”[4]. Chính vì vậy, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực căn bản và mạnh mẽ của sự phát triển xã hội và tiến bộ toàn diện không ngừng của nhân dân, đất nước với phẩm giá con người được thừa nhận một cách đầy đủ, tôn trọng và bảo vệ.

 Bốn là, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”[5]. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

 Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

 Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới./.

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH; NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với các luận điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được thể hiện qua các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII đó là: Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.

 Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta. Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ,… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt là chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng. Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

Nhìn lại lịch sử từ khi Học thuyết Mác ra đời, đặc biệt sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công đến nay, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại không lúc nào ngừng công kích, chống phá chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội. Vậy vì sao các thế lực thù địch lại hết sức hoảng sợ, luôn tìm trăm phương ngàn kế để phản bác chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội hiện thực như vậy?

Sau sự kiện sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX, trong hàng ngũ cộng sản và nhân dân, có người đã nhiễm phải những luận điệu tuyên truyền hết sức tinh vi và thâm độc của các thế lực thù địch, từ đó nảy sinh tư tưởng bi quan, dao động, thậm chí đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội. Trước thực tế đó, những người cộng sản chân chính cần phải bình tĩnh, tăng cường đoàn kết thống nhất để bảo vệ các giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác- Lênin và toàn bộ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin với tinh thần cách mạng và khoa học, với tư duy đổi mới và sáng tạo, trên quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Trong bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, cần nhận thấy có một số luận điểm được Mác, Ăng- ghen đưa ra trước đây là đúng đắn, song trong điều kiện lịch sử mới có những vấn đề không còn phù hợp, có những vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung và phát triển.

Trong nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, xét lại liên tục công kích, chống phá quyết liệt chủ nghĩa Mác- Lênin cả về lý luận và thực tiễn. Trên bình diện lý luận, chúng tìm mọi cách bác bỏ từng luận điểm riêng lẻ, từng bộ phận của Học thuyết, rồi đi đến phủ nhận toàn bộ chủ nghĩa Mác- Lênin. Trên bình diện thực tiễn, chúng vin cớ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô để suy diễn một cách lố bịch rằng “mô hình đổ thì học thuyết đổ theo”; rằng nội dung thời đại ngày nay đã thay đổi?

Hiện nay, các thế lực thù địch cùng các phần tử cơ hội, xét lại vẫn không ngừng công kích, phủ bác chủ nghĩa Mác- Lênin, ra sức tán dương các quan điểm ngoài mác- xít. Nhưng trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, liệu đã có học thuyết nào mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả, có sức cổ vũ, thuyết phục, tập hợp được hàng trăm các dân tộc cùng hàng tỷ người trên thế giới đứng lên đấu tranh để xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, lệ thuộc, như học thuyết Mác- Lê nin? Nếu không có Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, không có chủ nghĩa xã hội được xây dựng và phát triển trên đất nước Nga Xô- viết, thì làm sao loài người có thể tiêu diệt được những con “quái vật” chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai? Nếu không có một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, thì nhân loại sẽ ra sao? Và chắc chắn nhân loại sẽ còn phải chứng kiến không ít cuộc chiến tranh tàn khốc do các thế lực hiến chiến gây ra...

Trong những thập kỷ tới của thế kỷ 21, chủ nghĩa xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Song, cần khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác- Lênin vẫn có ảnh hưởng rất sâu sắc trong đời sống nhân loại, vẫn đứng vững trong cuộc đấu tranh của những người cộng sản và nhân dân lao động, kể cả ở những nước mà chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã. Hình ảnh các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba...luôn vững vàng, hiên ngang trước mọi sự tấn công ác hiểm của các thế lực thù địch và bọn phản động quốc tế, là bằng chứng hùng hồn về sức sống hiện thực của chủ nghĩa Mác- Lênin. Đây chính là nguồn cổ vũ lớn lao cho những người cộng sản chân chính và nhân dân các dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp của nhân loại.

Đối với cách mạng Việt Nam, sức sống của chủ nghĩa Mác- Lênin đã thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng từ khi thành lập Đảng 3-201930 đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người có công truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin luôn tràn đầy sức sống hiện thực. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong hơn 76 năm, đặc biệt những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua, càng củng cố vững chắc niềm tin, niềm tự hào cho mỗi đảng viên, cán bộ và nhân dân ta vào chủ nghĩa Mác- Lênin, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Gần đây, ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Các thế lực thù địch chúng xuyên tạc với các nội dung như:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh” của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.

Thông qua quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những điều chỉnh Người nói về tư tưởng của mình, chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự xuyên tạc lịch sử?

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Sự chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyễn diệu”... !

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quá trình đó như sau:

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.

Trong những năm 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập trường giai cấp công nhân.

Đầu năm l930, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Người trình bày dự thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, được Hội nghị của Đảng thông qua, trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh đã nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tuy mới là “vắn tắt”, nhưng đã bao quát được những vấn đề có ý nghĩa định hướng về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh vừa thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Song có thời gian do hạn chế về nhận thức, nên một số đồng chí không quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hội nghị thành lập Đảng. Từ năm 1936, nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã trở lại quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và từ đó đường lối của Đảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của Người.

Những sử liệu trên, dù mới chỉ được dẫn ra chưa đầy đủ và còn sơ lược, cũng đã chứng tỏ những luận điệu như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.

Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động. 

Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn  các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

Những năm qua, các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để khẳng định tính cách mạng khoa học của mục tiêu lý tưởng, của đường lối, chủ trương, chính sách và những thành tựu của cách mạng chưa được quan tâm đúng mức. Tính thuyết phục trong tuyên truyền đấu tranh phản bác còn hạn chế. Để khắc phục, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chính là cơ sở khoa học để chúng ta nâng cao tính thuyết phục trong phản bác các luận điệu xuyên tạc và những âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp. Điều này chỉ được tạo ra khi các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị có sự chủ động phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Thực tế thời gian qua cho thấy trong từng nhiệm vụ, từng nội dung đấu tranh cần tránh hô hào chung chung mà phải phân rõ trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất.

Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch. Sự chủ động trong quản lý, nắm bắt tình hình, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị chức năng cũng rất cần được quan tâm. 

Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.