Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

KHÔNG ĐỂ ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN THIẾU ĐỊNH HƯỚNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Theo số liệu thống kê của Trung ương Đoàn thì hiện nay có khoảng 95% thanh niên Việt Nam sử dụng mạng xã hội. Đáng chú ý là khi tham gia mạng xã hội, đoàn viên, thanh niên sẽ gặp phải những lời “chào mời” đầy hấp dẫn và cám dỗ. Nhẹ là những lời mời mọc xem - nghe - đọc văn hóa phẩm đồi trụy; nặng thì tiếp xúc với các thế lực phản động, cùng rất nhiều lời chào mời tham gia hội này, nhóm kia, thậm chí có khi họ tự ý điền tên người dùng mạng xã hội vào các hội, nhóm bất kể chủ tài khoản có đồng ý hay không. Vì lẽ đó, nhất định tổ chức đoàn phải tổ chức, tập hợp thanh niên trên mạng xã hội, không để đoàn viên, thanh niên thiếu định hướng trên mạng xã hội.

          Trong vài năm trở lại đây, công tác đoàn đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn rất ít sự tương tác với thanh niên thông qua hình thức ứng dụng công nghệ thông tin. Trong khi đó, sự phát triển của mạng xã hội trong thời đại kỹ thuật số đang đòi hỏi phương thức tập hợp, giáo dục thanh niên phải thay đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Thanh niên sử dụng mạng xã hội tức là họ đang tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu. Giá trị mà các mạng xã hội đem đến cho thanh niên là không thể phủ nhận nhưng tác động từ mặt trái của mạng xã hội cũng ẩn họa khó lường. Cho nên, tổ chức đoàn cần thường xuyên xuất hiện trên mạng để kịp thời chia sẻ, hỗ trợ thanh niên, để cái tốt, cái thiện đồng hành với thanh niên trên mạng xã hội.

          Chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà mạng xã hội đã mang đến cho con người hiện nay, như giúp ích cho công việc, tìm kiếm thông tin, thiết lập các mối quan hệ cá nhân hay giải trí... Tuy nhiên, nó cũng chứa đựng nhiều nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn có thể ảnh hưởng xấu tới công việc, mối quan hệ cá nhân và cuộc sống. Mạng xã hội đã khiến nhiều đoàn viên, thanh niên xao nhãng việc học tập, mất đi quỹ thời gian tự học, tham gia vào sân chơi không lành mạnh, dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội mà lơ là rèn luyện bản thân; bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ, mạo danh để thực hiện các hành vi lừa đảo hoặc chống phá Đảng, Nhà nước; bị cuốn vào những trào lưu có dấu hiệu lệch chuẩn về văn hóa và lối sống từ mạng xã hội.

          Không có giải pháp nào hiệu quả và tối ưu hơn để khắc phục những mặt trái nêu trên từ chính công tác quản lý của cơ quan chức năng và sự nhận thức, mục đích của người sử dụng mạng xã hội. Muốn vậy, khi tham gia mạng xã hội phải tôn trọng hai nguyên tắc:

          Một là, gạn đục khơi trong: Để biết chọn người kết bạn, chọn group để tham gia, chứ không thể tùy tiện kết bạn trên mạng xã hội, không vội vàng đăng status, chia sẻ, like, trước khi vấn để chưa được kiểm chứng một cách kỹ lưỡng. Đồng thời, cùng với đó là đoàn viên, thanh niên phải đọc thêm, nghe thêm, hiểu thêm để xây dựng bản lĩnh cho chính mình.

          Hai là, phải biết lên tiếng cho cái tốt. Khi tiếp xúc các trang mạng có nội dung độc hại, chúng ta phải bình tĩnh, không chia sẻ. Nếu chúng ta chia sẻ thì có thể nhiều người sẽ đọc và biết về thông tin này nhiều hơn, vô tình ta tiếp tay cho kẻ xấu. Hãy hủy kết bạn với những người thường đăng thông tin xấu, hãy ngừng like những trang mạng cung cấp thông tin xấu và biết lên tiếng cho cái tốt.“Cái xấu hoành hành, một phần là do những người tốt không lên tiếng”. Vì thế, trong xã hội thông tin này, nếu đoàn viên, thanh niên xây dựng bản lĩnh tốt, nắm vững công cụ hữu ích từ mạng xã hội sẽ đủ sức “đề kháng” với những thông tin xấu độc.

          Vì vậy, nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực từ mạng xã hội đối với đoàn viên, thanh niên, cần có nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn đoàn viên, thanh niên. Do vậy, cần xác định công tác hướng dẫn, tuyên truyền sử dụng mạng xã hội cho đoàn viên, thanh niên là nhiệm vụ thường xuyên, bắt buộc; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên về mạng xã hội, không để đoàn viên, thanh niên thiếu định hướng trên không gian mạng./.

                                                                                

                                                                            

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, giàu nghèo, phát triển hay kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng đối lập lãnh đạo. Trên thế giới, tham nhũng đã có từ xa xưa và hiện nay đang là vấn nạn nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, nó tác động tiêu cực đến sự phát triển, làm trầm trọng thêm vấn đề bạo lực và sự bất ổn, lo lắng của mọi người dân.

Tệ tham nhũng đã được Đảng, Nhà nước ta nhận diện và thẳng thắn chỉ ra ngay từ thời kỳ xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ sau năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng coi tham nhũng, quan liêu, lãng phí là giặc nội xâm, kẻ thù của nhân dân. Trong các văn kiện của Đảng, pháp luật của nhà nước đều nói đến tệ nạn này, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Không dừng lại ở nhận diện, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời xác định phòng chống tham nhũng là một trong những đối sách phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Qua đó, cho thấy phòng chống tham nhũng ở nước ta được triển khai một cách quyết liệt, toàn diện. Việc chỉ đạo công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã có chất lượng, hiệu quả hơn; hợp tác quốc tế trong phòng chống tham nhũng tích cực, chủ động hơn…        

Song, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức khai thác, lợi dụng triệt để một số vụ án tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng phòng chống tham nhũng để xuyên tạc, chống phá công cuộc Đổi mới và sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Thủ đoạn phổ biến của chúng là tuyệt đối hóa phần đánh giá hạn chế trong các báo cáo, kết luận của Đảng và Nhà nước ta về tham nhũng và phòng chống tham nhũng; hoặc lấy vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, một số vụ việc, vụ án trọng điểm đang được chỉ đạo, xử lý để “phóng đại” thành tình hình chung. Chúng tách rời tham nhũng với công tác phòng chống tham nhũng để “khoét sâu nội bộ”, đổ lỗi do năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của người đứng đầu, cho rằng “vì duy trì chế độ độc Đảng”, nên dẫn tới sai lầm về đường lối và tất yếu để xảy ra tham nhũng, hòng hạ thấp uy tín của Đảng ta, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo cao cấp; làm giảm sút lòng tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và bộ máy chính quyền các cấp; chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân. Từ những luận điệu mơ hồ đó, chúng tuyên truyền, tung hô: “Phải thực hiện đa nguyên, đa đảng” và “chỉ có từ bỏ chủ nghĩa xã hội và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản thì Việt Nam mới hết tham nhũng…”.

            Đồng thời, chúng còn triệt để tận dụng internet để đăng tải các bài viết kèm thông tin, số liệu đã được “xào xáo”, cắt ghép hình ảnh cán bộ vào các thông tin số liệu đó một cách trắng trợn; rồi đưa các phim phóng sự, phỏng vấn, bình luận với sự suy diễn, áp đặt chủ quan, xuyên tạc… hòng tác động đa chiều vào dư luận xã hội, làm dấy lên những băn khoăn, lo lắng, nghi hoặc trong nhân dân. Đồng thời chúng cũng lợi dụng một số bức xúc ở một vài nhóm dân cư để âm mưu kích động, tạo thành các “điểm nóng”, nhằm gây rối về an ninh chính trị từ cơ sở…

Hiện nay, tham nhũng vẫn đang là vấn nạn phức tạp; bên cạnh đó, do tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế lên những giá trị đạo đức, quan niệm sống, nhân cách con người… làm cho tham nhũng vẫn còn “đất” để bám rễ, tồn tại. Nó tiếp tục là nguy cơ, thách thức, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải quyết liệt, nỗ lực và hiệu quả hơn nữa trong phòng chống tham nhũng. Để phòng chống tham nhũng một cách có hiệu quả chúng cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế, xã hội và những quy định về phòng, chống tham nhũng; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm yêu cầu nhiệm  vụ; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng. Cùng với đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng, chúng ta cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng để chống Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

 


Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là vấn đề thiêng liêng, là trọng trách cao của của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Hiện nay, trước âm mưu bành trướng, không ngừng có những hành động xâm phạm tới chủ quyền biển, đảo nước ta của một số nước trong khu vực thì vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ được đặt ra ngày càng cấp thiết hơn bao giờ hết.

          Trong khi Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta đang nỗ lực vượt qua những khó khăn thách thức, kiên quyết và kiên trì thực hiện đường lối, chủ trương, quyết sách để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động lại tìm cách xuyên tạc, kích động chống phá công cuộc đấu tranh đó. Các đối tượng này thường tự gắn cho mình nhân danh “những người Việt Nam yêu nước” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước ta về bảo vệ biển, đảo hiện nay là lỗi thời, nếu cứ tiếp tục thực hiện như hiện nay sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo của đất nước nữa.

          Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng những sự kiện do Trung Quốc và một số bên tranh chấp thực hiện ở biển Đông trong những năm vừa qua để vu cáo “Việt Nam hèn nhát, nhu nhược”, “Đảng cộng sản Việt Nam bán đảo cho Trung Quốc”…từ đó, các thế lực thù địch còn đưa ra những kiến nghị rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với Mỹ, dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

          Ngoài ra, một luận điệu nữa mà họ thường lợi dụng đó là vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”!

          Nguy hiểm hơn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

          Chính vì vậy, nhận thức rõ đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước ta là cơ sở quan trọng để mỗi chúng ta nâng cao tinh thần cảnh giác có cơ sở khoa học để phản bác các quan điểm sai trái thù địch nêu trên.      

          Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình. Luôn nêu cao tính chính nghĩa, tinh thần thượng tôn pháp luật trong quá trình đấu tranh đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

RFA lại đánh tráo khái niệm

 


Ngày 24/01/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự do (RFA) tán phát bài “50 năm Hiệp định Paris: Thắng lợi vĩ đại hay hòa bình cay đắng” của tác giả Tường An. Bài viết này có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam; bài viết nhìn nhận hoàn toàn sai lệch nhằm mục đích lèo lái dư luận, công khai cho rằng chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử chỉ là cuộc nội chiến tương tàn giữa Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam. Rõ ràng đây hoàn toàn là những luận điệu xuyên tạc hòng đánh lạc hướng dư luận, đồng thời thể hiện rõ sự ngu muội về lịch sử của người Viết. Như chúng ta đã biết, trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Đế quốc Mỹ đã áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình ở Miền Nam Việt Nam bằng phương thức nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Đó là chính sách “dùng người Việt trị người Việt” để người ngoài lầm tưởng đó là cuộc nội chiến. Nhưng ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Vậy làm sao có thể nói miền Bắc “chiếm chọn Miền Nam” sau hiệp định Pari.

          Hơn nữa, nếu không có những thắng lợi to lón trên mặt trận chính trị, quân sự, liệu đê quốc Mỹ có chịu ngồi vào bàn đàm phán để ký kết Hiệp định Pari? Nếu không có chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Miền Nam có được giải phóng, đất nước có được thống nhất như ngày hôm nay hay lại chịu cảnh “kẻ Bắc nhớ người Nam”, gia đình ly tán như tình cảnh Hàn Quốc và Triều Tiên hiện nay? Rõ ràng có thể khẳng định việc ép Mỹ ký kết Hiệp định Pari là thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ vĩ đại.

          Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh cháo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thât lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.

Nguyễn Đình Cống – Kẻ xuyên tạc, chống phá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam

 

Gần đây, trên trang “Baotiengdan” bút danh Nguyễn Đình Cống đã đăng bài viết “Nguy hiểm cho ai?”. Toàn bộ nội dung bài viết của Y là những lời lẽ xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam.

1. Nguyễn Đình Cống, với mưu đồ chính trị đen tối, Y đã cố tình xuyên tạc, cho rằng “Lãnh đạo Đảng csVN đang loay hoay trước tình thế nguy hiểm của sự suy thoái. Cấp thiết phải củng cố, làm trong sạch đảng”.

Nguyễn Đình Cống nên biết rằng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược; là tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Đảng ta nhận định: Suy thoái là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia. Khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trở thành những cán bộ có chức, có quyền trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Đây là điều kiện dễ làm cho cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, chạy theo chức, quyền, danh, lợi, dẫn đến phai nhạt lý tưởng, xa rời nhân dân, tham nhũng, lãng phí. Trong điều kiện mới hiện nay, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng tinh vi, phức tạp; nếu không kịp thời đấu tranh, khắc phục sẽ dẫn đến sự suy vong của Đảng.

Do đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc; là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng ta, để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, đủ năng lực lãnh đạo, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

2.Thực tiễn từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn làm tốt công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng; xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.

Qua các kỳ Đại hội của Đảng, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được đặc biệt quan tâm. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra các nhiệm vụ xây dựng Đảng trên 3 mặt: Tư tưởng, chính trị, tổ chức. Những nội dung này đã được Đảng ta thường xuyên bổ sung, phát triển cho phù hợp với bối cảnh, tình hình thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ năm 1986 đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) năm 1992 về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2 (khóa VIII) năm 1999 “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI năm 2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII năm 2016 “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đại hội XIII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đảng ta đã ban hành các Quy định về những điều đảng viên không được làm; Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Thành lập, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và đi vào hoạt động có hiệu quả của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, đã tạo sự chuyển biến tích cực, rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống khắc phục tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, trong đảng viên và cán bộ nhà nước. Chính vì vậy, Đảng ta đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của đất nước; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Cho nên, những nhận định mà Nguyễn Đình Cống đưa ra là hồ đồ, thể hiện rõ mưu đồ xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG XUYÊN TẠC, PHẢN ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 


Trước yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn cách mạng Việt Nam, đòi hỏi cấp thiết phải nhận diện và đấu tranh với những thông tin xuyên tạc, sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Trong thời đại Cách mạng 4.0 hiện nay, nội dung chống phá của chúng trên không gian mạng hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đồng thời, chúng ra sức nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng phủ nhận những thành tựu; thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

(4) Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, kêu gọi hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam.

Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác nhận diện và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHÂN CÁC NGÀY LỄ LỚN

 


Trong ngày này, khi cả nước đang tưng bừng đón xuân và chuẩn bị cho ngày thành lập Đảng. Các thế lực thù địch đã ra sức chống phá Đảng trên mọi phương diện. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. Hiện nay, với sự phát triển mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với các phương thức, chiêu trò, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cả trong lịch sử và hiện tại. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả.

Cảnh giác với luận điệu phản động của Phạm Trần

 

Trên trang “Thongluan-rdp”,  Phạm Trần tán phát bài “Đảng cộng sản Việt Nam sợ cách mạng màu lật đổ”. Trong bài viết, Y hồ đồ cho rằng: “Dư âm cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập năm 2010 ở Trung Đông, Bắc Phi Châu và sự tan rã của Thế giới cộng sản ở Nga năm 1992, đang là mối lo hàng đầu của Đảng cộng sản Việt Nam”.  Y cố tình xuyên tạc: “Nhà nước cộng sản Việt Nam coi mọi phản ứng của dân trong cuộc sống, kể cả các hoạt động đòi dân chủ, tự do, nhân quyền, v.v. đều là “diễn biến hòa bình” nhằm phát triển “cách mạng màu” để lật đổ Đảng cộng sản Việt Nam. Thậm chí, những phản ứng “ích nước, lợi dân” nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi kinh tế và môi trường cũng bị chụp mũ chống nhà nước, chống nhân dân”

Sự thật chúng ta đều biết, từ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, nhiều quốc gia ở Đông Âu thuộc Liên Xô (cũ) và các quốc gia ở Trung Đông, Bắc Phi rơi vào khủng hoảng chính trị mà sự bất ổn và hệ quả của nó vẫn kéo dài đến tận bây giờ, “Cách mạng màu” chính là nguyên nhân dẫn đến trình trạng này. “Cách mạng màu” là một trong những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện nhằm lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng các kênh truyền thông, Internet, mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Với chiêu bài “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chống phá nền tảng tư tưởng, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, gieo rắc tư tưởng cực đoan, tạo bất đồng, xung đột trong nội bộ Đảng và nhân dân; cường điệu những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý để chia rẽ đoàn kết, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động tư tưởng, thái độ thù địch; xúi giục, lôi kéo, tụ tập đông người để biểu tình trái phép như vụ lợi dụng phản đối giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam (2014), vấn đề môi trường tại Formosa Hà Tĩnh (2016), phản đối Dự Luật về Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (2018), Luật An ninh mạng (2018)… đã gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, hình ảnh, uy tín của Việt Nam. Những hành vi sai trái của số đối tượng chủ mưu cầm đầu, đối tượng manh động, quá khích đã bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Hơn bao giờ hết, mỗi công dân Việt Nam yêu nước hãy tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chủ quan, lơ là mất cảnh giác trước âm mưu về “Cách mạng màu” của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của chúng; nỗ lực, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 

Nguồn: https://nhanvanviet.com

 

ĐỔI TIỀN TRÊN “CHỢ MẠNG” – HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

Hàng năm mỗi dịp cận Tết, nhu cầu đổi tiền mới dường như đã trở thành thói quen trong quan niệm của mỗi người Việt, đi kèm theo đó là các dịch vụ mời chào từ các trang mạng xã hội zalo, fabook… lại nở rộ với đủ loại tiền đặc biệt đối với các loại tiền có mệnh giá từ nhỏ để lì xì, đi chùa v.v… Mặc dù đã được cảnh báo nhiều nhưng dịch vụ đổi tiền mới mệnh giá nhỏ vẫn diễn ra khá ngang nhiên thậm chí phổ biến và có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Và thật dễ chúng ta có thể chỉ cần một cái click sẽ có hàng loạt các lời tư vấn, mời chào từ loại hình dịch vụ này. Có thể kể tên một số trang web thông dụng như dichvudoitien.com; tienquocte.net; doitiensaigon.com; muabantien.com; shoptienlixitet.com… và hàng loạt các trang, shop đổi tiền trên facebook, zalo… với các loại phí rẻ nhất, nhanh nhất  với những sê ri , cọc tiền mới nhất.  Những quảng cáo, mời chào cũng đưa ra các mức giá khác nhau gọi là “phí đổi tiền” và giữa các dịch vụ có sự chênh lệch khá lớn, đặc biệt nhu cầu đổi tiền mệnh giá càng nhỏ thì mức phí mà người có nhu cầu phải trả càng cao. Hơn nữa, đi kèm với dịch vụ này còn có các loại hình dịch vụ đổi tiền (mua tiền) độc, lạ, cổ và tiền nước ngoài đặc biệt đối với đồng ngoại tệ có mệnh giá 2 USD.

Hiện nay, các giao dịch đổi tiền lẻ, mới hầu như được thực hiện thông qua các hình thức trực tuyến. Như vậy các chủ thể tham gia giao dịch này không thể biết đối phương là ai, không có địa chỉ cụ thể, các thông tin ảo nên tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Nếu xảy ra rủi ro việc lấy lại tài sản khó có thể thực hiện được. Một trong những hình thức phổ biến của trò lừa đảo của hình thức giao dịch này là đổi tiền thật lấy tiền giả. Nhu cầu càng cao thì việc dùng tiền giả để giao dịch là rất có thể xảy ra. Hơn nữa, thủ đoạn sản xuất tiền giả ngày càng tinh vi, khó phát hiện với những công nghệ, kỹ thuật hiện đại vì thế người đổi tiền qua mạng dễ rơi vào nhiều rủi ro.

Mỗi dịp Tết nguyên đán, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện chủ trương không đưa thêm tiền mới với mệnh giá nhỏ ra lưu thông  đồng thời Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phối hợp, chỉ đạo các cơ quan khác siết chặt chuyện đổi tiền lẻ. Việc hạn chế in tiền lẻ giúp ngân sách tiết kiệm được 3.500 tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước cũng nghiêm cấm cán bộ, các tổ chức ngân hàng lợi dụng, tiếp tay, cung cấp các loại tiền mới cho các đối tượng kinh doanh đổi tiền hưởng chênh lệch.

Theo quy định pháp luật hiện hành, chỉ có những tổ chức được Nhà nước cho phép như: Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước mới được hoạt động thu đổi tiền tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Ngoài các đơn vị trên, mọi giao dịch đổi tiền của cá nhân, tổ chức khác đều là bất hợp pháp. Về mặt  pháp lý, việc đổi tiền lẻ, tiền ngoại tệ có thu phí do các cá nhân, tổ chức hoạt động tự phát như hiện nay là hành vi vi phạm pháp luật. Đổi tiền lẻ nhằm hưởng % chênh lệch là hành vi phạm pháp luật. Nếu người nào thực hiện các hành vi đổi tiền không đúng quy định như: Đổi tiền có phí, đổi tiền không đúng mệnh giá… sẽ bị xử phạt hành chính. Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đã quy định rõ: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với hành vi thực hiện đổi tiền không đúng quy định của pháp luật. Mức phạt trên áp dụng với cá nhân, còn với tổ chức sẽ tăng nặng gấp 2 lần.

Để tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động mua, bán ngoại tệ, vàng và dịch vụ đổi tiền mặt mệnh giá nhỏ không đúng quy định của pháp luật, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 35/2022/CT-TTg yêu cầu Ngân hàng nhà nước chủ trì, phối hợp với các bộ ngành, cơ quan chức năng siết chặt, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm có liên quan đến loại hình giao dịch nói trên.

Nếu bạn là người dùng Internet và mạng xã hội, hãy tỉnh táo với những lời chào mời, những nội dung quảng cáo về đổi tiền trên “Chợ Mạng”. Mạng ảo nhưng không ảo, nó luôn gắn liền với sự an toàn của chúng ta. Chắc chắn bạn không muốn mình là đối tượng phạm pháp rồi!

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Thật nực cười khi đọc “Bản chất không hoàn hảo của một nền dân chủ chân chính” của Đào Tăng Dực trên trang mạng xã hội. Trong bài viết, Đào Tăng Dực đã đưa ra những “minh chứng” không đúng với thực tế nền dân chủ ở Việt Nam khi cho rằng, chế độ mà Việt Nam đang xây dựng “là trật tự chính trị khép kín”, “độc tài”, “ưu việt giả dối”. Luận điệu này mặc dù chẳng mới mẻ gì, nhưng khi đọc dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về giá trị dân chủ, dễ gây nên sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Như chúng ta đều biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước công – nông được thành lập năm 1945, toàn dân Việt Nam được đi bầu cử tự do năm 1946 với hình thức phổ thông đầu phiếu, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ thực sự và ngày càng phát huy trong quá trình xây dựng xã hội mới; chế độ dân chủ đó “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử.

Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày. Trong đó, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp, ưu việt và được thực hiện trên thực tế. Rõ ràng dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ rõ: Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực; phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước đều xuất phát từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, đó là: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Thông qua các phiên chất vấn của đại biểu Quốc hội; thực hiện đối thoại với nhân dân thông qua những cuộc tiếp xúc của các đại biểu Quốc hội với cử tri đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Điều đó cho thấy rõ bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; thể hiện rõ mục tiêu, động lực của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển đất nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, những lập luận của Đào Tăng Dực hoàn toàn không đúng với thực tế nền dân chủ ở Việt Nam. Đó là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, là sự vu khống, là “trở lực” chính cho việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam cần phải được vạch trần và và đấu tranh bác bỏ. Mỗi người dân chúng ta cần hết sức cảnh giác không để các thế lực thù địch lừa bịp, lôi kéo. Đồng thời, tin tưởng vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.

NHÀ NƯỚC TÔN TRỌNG VÀ BẢO HỘ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

 


Vừa qua, sau khi Bộ Ngoại giao Hoa kỳ công bố Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2019, trong đó có nội dung thông tin thiếu khách quan, không chính xác và chưa được kiểm chứng về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng xuyên tạc, kích động và đưa tin sai sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam "đàn áp" tôn giáo, "vi phạm" nhân quyền. Đây là những thông tin sai sự thật, thất thiệt, lợi dụng vấn đề này để chống phá chủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tự do tín ngưỡn, tôn giáo. Trước vấn đề này Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: "Như đã nhiều lần khẳng định, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân". Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được đảm bảo, tôn trọng trên thực tế. Chính hoạt động thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam những năm qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, thiếu khách quan đó của các thế lực không có thiện chí với Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ đều được Nhà nước ta đối xử bình đẳng như nhau và được tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Đoàn kết tôn giáo và tự do tín ngưỡng là quan điểm cơ bản, là nội dung chủ yếu của chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu của Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tuyên bố: “Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946, tại chương II, mục B đã khẳng định "Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng". Điều 80 Hiến pháp 1980 cũng ghi rõ " Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Điều 70 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được bổ sung rõ hơn: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc hiến định trong các bản Hiến pháp của nước ta. Điều 24 Hiếp pháp năm 2013 đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Cụ thể hóa nguyên tắc này của Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân; bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, chia rẽ dân tộcchia rẽ tôn giáo, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.

 Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Thời gian vừa qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống Pháp luật về tôn giáo, chính sách tín ngưỡng, nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mởi rộng, quyền và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng bảo đảm tốt hơn. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo đã thu hút hàng vạn tín đồ nhân dân tham dự, nổi bật như: tháng 12/2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng 7/2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai, với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công 03 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008, 2014, 2019), riêng năm 2019 tổ chức tại chùa Tam Chúc (tỉnh Hà Nam) đã thu hút sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh ...

Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh. Trước năm 1990, cả nước có 06 cơ sở đào tạo tôn giáo, đến năm 2021 đã tăng lên thành 63 cơ sở đào tạo, mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp; ngoài ra, còn có hàng trăm người đang du học tại nước ngoài. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (năm 2019), cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ (trong đó có nhiều kinh sách được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai), 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Công tác xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự của các tôn giáo cũng được quan tâm đẩy mạnh trong những năm qua. Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, trong 10 năm (2012 - 2022) thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm héc ta đất để xây dựng cơ sở thờ tự, như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện thành kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; Thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 héc ta cho Giáo xứ La Vang...

Với những minh chứng thực tiễn sinh động như vậy, có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đảm bảo tốt hơn, hoạt động đa dạng, phong phú, sôi động. Do vậy, những nhận định thiếu khách quan, những lời lẽ xuyên tạc về tình hình tự do, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam là sai sự thật, cần được vạch trần, phê phán, bác bỏ.

THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐICH PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC VÀ ỨNG XỬ CỦA CHÚNG TA

 


Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta có một điều luôn chứng minh rằng nếu làm mất lòng dân, không được dân ủng hộ thì thành cao hào sâu cũng không thể cứu được đất nước khỏi rơi vào tay ngoại bang. Chẳng hạn như vào đời nhà Hồ, thành nhà Hồ ở Tây Đô Thanh Hóa rất hoành tráng nhưng cũng không thể nào ngăn được vó ngựa quân Minh dày xéo Tổ quốc hàng chục năm trời, bởi nhà Hồ đã không xây dựng được thế trận lòng dân - một yếu tố sống còn. Hồ Nguyên Trừng con trai Hồ Quý Ly từng lo ngại: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá cao ý kiến của Hồ Nguyên Trừng “Mệnh trời là ở lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó. Không cớ họ Hồ mà bỏ câu nói của Trừng được”. Ai cũng biết Thánh Gióng phải có con ngựa sắt, An Dương Vương phải có chiếc nỏ thần, Lê Lợi phải có thanh gươm thần...

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc tư tưởng lấy dân làm gốc luôn được Đảng đặt lên hàng đầu. Vì có được lòng dân nên Đảng mới lãnh đạo cách mạng thành công được.

Hiện nay, các thế lực chống phá đang ra sức xuyên tạc, tạo tâm lý bất bình trong nhân dân để chia rẽ nhân dân với Đảng và nhà nước với các phương thức và thủ đoạn tuyên truyền sau.

1. Về phương thức: Tuyên truyền trên không gian mạng và tuyên truyền rỉ tai trong xã hội, trong đó đẩy mạnh tuyên truyền trên không gian mạng.

Về tuyên truyền chúng kết hợp nhiều phương pháp như: tuyên truyền đen, tuyên truyền xám, tuyên truyền trắng trong đó chú trọng hơn về tuyên truyền đen là chính.

- Tuyên truyền đen là lợi dụng các sự việc có thật để lồng ghép, xuyên tạc, nói xấu chính quyền.

- Tuyên truyền xám là những sự việc không rõ nguồn gốc tạo tâm lý hoang mang, nghi ngờ, nghi kỵ lẫn nhau.

- Tuyên truyền trắng là nói thẳng ra sự việc có thật để gây tâm lý chán nản cho ng đc tuyên truyền.

2. Về mục đích nhằm gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, tạo tâm lý bất bình, mất niềm tin trong nhân dân. Đây là bước cần thiết để xúc tiến cách mạng màu ở Việt Nam, nhanh chóng lôi kéo nhân dân nhanh nhất có thể.

Vậy chúng ta cần phải làm gì để đối phó.

- Mỗi người dân hãy là một chiến sỹ giữ gìn sự đoàn kết của dân tộc.

- Chúng ta không để không gian mạng là sân chơi độc quyền của chúng.

- Nhìn nhận mọi vấn đề cần cân nhắc kỹ trước khi kết luận. Nhìn mọi việc cần có tính tích cực.

- Có chính kiến rõ ràng, sẵn sàng vạch trần âm mưu của chúng.

- Đấu tranh mang tính xây dựng trước các vấn đề còn hạn chế của đất nước để xây dựng quê hương đất nước của mình ngày càng giàu mạnh.

Công dân gương mẫu

CƠ SỞ KHOA HỌC - THỰC TIỄN ĐỂ BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ẢO VỌNG”

 


Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”.

Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu

Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn.

Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào?  

Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này.      

Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này.

Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại.            

Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ

Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau:  

Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại.      

Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững.      

Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN.

Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh.

Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ.                 

CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan

Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.

Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

 Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy.

Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.

Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai

Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...

Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.           

Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”.