Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

 

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

H.S

          Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại... Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

          Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Một mặt, chúng cho rằng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc, không phải là người mácxít, không theo chủ nghĩa cộng sản; chỉ lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện. Mặt khác, lại hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, cho Hồ Chí Minh không có tư tưởng riêng, chỉ cóp nhặt tư tưởng của những người khác. Cả hai quan niệm này đều phủ định mối liên hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với một trong những nguồn gốc hình thành của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, về thực chất, các quan điểm này đều nhằm phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Cần khẳng định rằng, giá trị lớn nhất, xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gắn bó hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta trong việc kết hợp biện chứng vấn đề gai cấp, vấn đề dân tộc và vấn đề nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn chặt với sự nghiệp giải phóng giai cấp. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; lý tưởng độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đó là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu quan trọng về mọi mặt trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

          Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Tại mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu và với mỗi cán bộ, đảng viên, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được phải quán triệt thường xuyên, trở thành công việc tự giác, chủ động, kịp thời, nhằm ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. 

 

KIÊN ĐỊNH SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                                                           Quảng Phúc

Thời gian gần đây, một số đối tượng có quan điểm thù địch tiếp tục rêu rao luận điệu phản cách mạng, chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử! Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn, những người cộng sản có thể khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Do đó, chúng ta luôn kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bất kỳ mọi hoàn cảnh, tình huống nào.

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa; giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 92 năm qua.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định: “Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”[1]. Người nhấn mạnh: “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: - Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. - Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”[2].

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, khẳng định: “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực và đổi mối phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”.[3]



[1] Hồ Chí Minh (1953), THƯỜNG THỨC CHÍNH TRỊ, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 274.  

[2] Hồ Chí Minh (1953), THƯỜNG THỨC CHÍNH TRỊ, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 274.  

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 40.

 

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG “TRONG ĐIỀU KIỆN CHIẾN TRANH BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO, ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ AN NINH NHÂN DÂN LÀ SAI LẦM”

                                                                Chungkace

Cuộc đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã và đang diễn ra vô cùng gay go, phức tạp. Các thế lực thù địch quốc tế và trong nước bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt tìm mọi biện pháp làm suy yếu và phá vỡ nền tảng chính trị ở nước ta, trực tiếp chống phá những quan điểm, đường lối của Đảng ta trong điều kiện mới.

Một trong những nội dung đang bị kẻ thù kịch liệt chống phá, xuyên tạc đó là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Chúng cho rằng, trong điều kiện chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao thì đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam là lỗi thời, là sai lầm. Luận điệu đó nhằm gây hoang mang và mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đường lối bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Thực chất, đây chỉ là những thủ đoạn lừa gạt, sự ngộ nhận và đề cao quá mức sức mạnh của vũ khí công nghệ cao, dẫn tới mù quáng không nhận ra sức mạnh tổng hợp của dân tộc ta mà không loại vũ khí hiện đại nào, không một kẻ xâm lược nào có thể khuất phục được. Cần khẳng định rằng: Vũ khí công nghệ cao tuy có sức mạnh, nhưng không phải là vạn năng.

Vũ khí công nghệ cao là những sản phẩm được nghiên cứu, thiết kế dự trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất và tính năng chiến đấu, kỹ thuật. Vũ khí công nghệ cao có những đặc tính: độ chính xác cao, uy lực phá hủy lớn, tầm hoạt động xa, sức cơ động cao, có thể hoạt động trong những điều kiện nhiễu, thời tiết phức tạp, ngày, đêm và đạt hiệu quả cao hơn hàng chục tới hàng trăm lần so với vũ khí thông thường trước đây.

Một số loại vũ khí công nghệ cao còn được gọi là vũ khí thông minh hay vũ khí tinh khôn có khả năng nhận biết một số địa hình, nhớ được tọa độ và đặc điểm của mục tiêu, tự động tìm và chọn mục tiêu, có khả năng linh hoạt trong thay đổi các phương án tiến công mục tiêu đã được sử dụng trong chiến tranh vùng Vịnh (1991), chiến tranh Nam tư (1999), chiến tranh Ápganixtan (2001), chiến tranh Irắc (2003).... Các chuyên gia quân sự phương Tây coi vũ khí công nghệ cao là loại vũ khí phổ biến trong chiến tranh tương lai. Đồng thời vũ khí công nghệ cao cũng làm thay đổi các phương thức tiến hành chiến tranh như: triệt để lợi dụng vũ khí công nghệ cao để thực hiện tiến công hỏa lực từ xa, thực hiện những đòn đánh phủ đầu làm “mềm” chiến trường, phá hủy mọi tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang của đối phương, làm hoang mang, tan rã về tinh thần, trước khi đưa lục quân vào tham chiến. Ngoài ra, chúng sẽ tăng cường chiến tranh điện tử nhằm vô hiệu hóa mọi hệ thống liên lạc và lãnh đạo, chỉ huy chiến tranh, chỉ huy tác chiến của đối phương...

Chúng ta không phủ nhận vai trò và tính chất nguy hại của vũ khí công nghệ cao, nhưng cũng cần nhìn nhận khoa học và biện chứng về khả năng của các loại vũ khí hiện đại này, cụ thể là:

Thứ nhất, vũ khí công nghệ cao dù có hiện đại đến đâu cũng không thể làm thay đổi bản chất của các hoạt động quân sự: thu thập, xử lý tin tức tình báo, chỉ huy tác chiến, cơ động lực lượng, cơ động hỏa lực, tác chiến tiến công, phản công, phòng ngự. Các yếu tố liên quan đến tác chiến của lực lượng vũ trang như: bí mật, bất ngờ, yếu tố chính trị, tinh thần và các mặt bảo đảm cho chiến đấu...

Thứ hai, đặc điểm nổi bật của vũ khí công nghệ cao là tính hệ thống hoàn chỉnh, tính liên kết chặt chẽ trong một cơ cấu thống nhất, chỉ cần hỏng một khâu nào đó sẽ kéo theo sự hỏng hóc, ngưng trệ của toàn bộ hệ thống.

Thứ ba, ngày nay các quốc gia có trình độ và năng lực để tạo ra các loại mục tiêu giả như thật để đánh lừa đối phương (cầu, phà, địa hình, trận địa phòng không... giả) tạo ra nhiều loại bẫy kỹ thuật để lừa địch, tạo ra nhiều số liệu đầu vào giả, làm rối loạn các thiết bị điều khiển vũ khí công nghệ cao.

Thứ tư, địa hình, khí hậu, thời tiết phức tạp cũng là những yếu tố bất lợi cho các loại vũ khí điều khiển chính xác... Xét ở góc độ nghệ thuật quân sự, trong chừng mực nào đó, vũ khí công nghệ cao có lúc không đương đầu nổi với các loại vũ khí thô sơ, vũ khí ít hiện đại của đối phương. Cho tới nay chưa có một mô hình toán học nào có thể bao quát hết được các yếu tố trên vào điều khiển vũ khí chính xác. Đây cũng là những điểm yếu của vũ khí công nghệ cao mà đối phương có thể dùng các biện pháp chiến thuật và kỹ thuật để đối phó với vũ khí công nghệ cao.

Thứ năm, để tiến hành cuộc chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, phải tổ chức quân đội theo quy mô đồ sộ, cồng kềnh, phụ thuộc nặng nề vào công nghệ, các thành phần của quân đội lại phụ thuộc chặt chẽ với nhau, do đó sẽ kém linh hoạt, đặc biệt khi phải đối phó với kiểu chiến tranh nhỏ, chiến tranh du kích... Không những thế, các lực lượng tham gia chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao phải được huấn luyện, chuẩn bị nhiều thời gian, nếu cuộc chiến tranh bị kéo dài không phải lúc nào cũng đáp ứng kịp và không phải nước nào cũng làm được.

Thứ sáu, chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao cần lực lượng bảo đảm tác chiến rất lớn. Hệ thống bảo đảm tác chiến rất phức tạp, phải liên kết hàng trăm căn cứ chiến đấu ở khắp nơi trên thế giới... sẽ tạo ra sự thiếu bền vững của công tác bảo đảm. Hệ thống bảo đảm hậu cần kỹ thuật cồng kềnh, cứng nhắc và tốn nhiều sức người, sức của cũng là một hạn chế của chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao. Ví dụ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, trong số 537.000 quân Mỹ tham chiến có tới 350.000 quân (chiếm 64%) quân số làm công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật.

Ngoài ra, sẽ tất tốn kém trong chi phí tài chính để phát triển vũ khí công nghệ cao, chẳng hạn để phát triển loại máy bay chiến lược tàng hình B.2 phải chi tới 530 triệu USD, máy bay tàng hình F.117A phải chi tới 120 triệu USD... nghĩa là so với thế hệ vũ khí trước đây, vũ khí công nghệ cao đắt gấp 10 đến 100 lần. Trong chiến tranh vùng Vịnh (1991) chỉ kéo dài hơn 1 tháng đã chi hết 70 tỷ USD. Như vậy, việc bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, tài chính cho một cuộc chiến bằng vũ khí công nghệ cao là thách thức, khó khăn và hạn chế của loại chiến tranh này.

Thứ bảy, về phương thức tiến hành chiến tranh, nhìn về hình thức thì chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao sẽ phô diễn được “ưu thế” của vũ khí công nghệ cao như: tiến công từ xa, đánh áp đảo đối phương, đánh nhanh, giải quyết nhanh.... Tuy vậy, nếu chỉ dùng sức mạnh của hỏa lực để thay thế cho xung lực thì khó giải quyết triệt để được thắng lợi trong chiến tranh.

Thực tiễn đã chứng minh, trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ ngàn xưa tới thời đại ngày nay, nhân dân ta luôn phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta nhiều lần và đều giành được thắng lợi vẻ vang. Đặc biệt trong thế kỷ XX, nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc mạnh nhất là thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ. Quy luật tất yếu của chiến tranh là “mạnh được, yếu thua”. Do đó, cả hiện tại và trong tương lai, Đảng ta phải luôn nắm vững quy luật đó. Và chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân không những không “lỗi thời, lạc hậu” như kẻ thù xuyên tạc, mà nó vẫn là con đường duy nhất đúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù.

 

 

NGUY HẠI TỪ CĂN BỆNH “THỜ Ơ, VÔ CẢM, THIẾU TRÁCH NHIỆM”

 CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”1. Tuy nhiên, “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân”2. Trong đó, vẫn còn tình trạng thờ ơ, vô cảm, chưa nêu cao ý thức, trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. “Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của một số cán bộ, đảng viên thực sự là một “căn bệnh” rất nguy hại, có biểu hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, như: suy nghĩ hẹp hòi, thái độ dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn, bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; sống ích kỷ, vun vén cá nhân, kèn cựa, đố kỵ, có những hành vi trái đạo đức, lương tâm của con người; tranh công, đổ lỗi, không trung thực, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, làm việc thì “được chăng hay chớ”, “dân có cần, nhưng quan không vội”, “khó người dễ ta”, hoặc rơi vào tham nhũng, lãng phí, tư duy nhiệm kỳ. Đáng chú ý là, những ngày qua, trước sự vào cuộc quyết liệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương, sự chung tay góp sức của cả cộng đồng, với nhiều tấm gương sáng mang đậm “nghĩa đồng bào”, cùng nhau quyết tâm cao nhất sớm đẩy lùi và chiến thắng đại dịch Covid-19, thì một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền vẫn đi du lịch, chơi Golf,… vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19, gây hậu quả nghiêm trọng.

Mối nguy hại của căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất lớn, nhất là khi nó “chui” vào chính trị để hình thành sự “vô cảm về chính trị”. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là người truyền đạt và tổ chức cho nhân dân thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt và phản hồi thông tin từ Nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những quyết sách bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi cán bộ, đảng viên thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc, đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì vô hình trung đã tự chặt đứt sợi dây gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và giữa Đảng với Nhân dân.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” còn là căn nguyên gây mất đoàn kết, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp, gây hại cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính thái độ này dẫn đến thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, quan liêu, bao biện, phô trương, lãng phí, tự tư, tự lợi, tham ô, hủ hóa, không quan tâm đến công việc được giao; thậm chí bỏ mặc, né tránh khi được giao nhiệm vụ mới, khó khăn; hoang mang dao động trước những khó khăn, thách thức tác động đến cơ quan, đơn vị, địa phương mình, v.v. Nhưng khi có thành tích lại cố vơ về mình, không tận tâm, tận lực, đồng lòng, đồng sức, thống nhất để tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa cơ quan, đơn vị, địa phương mình vượt qua thách thức, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này gây nguy hại rất lớn đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức, nếu để kéo dài, không khắc phục kịp thời sẽ làm chuyển hóa từ bên trong nội bộ từng tổ chức.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả điều hành của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội phụ thuộc trước hết vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” - thái độ: “Sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”3, thì đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không đi vào quần chúng. Như thế sẽ làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đây còn là căn bệnh “quái ác” làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”4. Vì vậy, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm”, nghĩa là không giữ được đạo đức cách mạng, mà đã không còn tư cách đạo đức cách mạng thì nhân dân sẽ không tin tưởng vào cán bộ, đảng viên, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ suy giảm. Mặt khác, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, chia sẻ ngọt bùi, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn với tinh thần “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “thương người như thể thương thân”,... là truyền thống văn hóa rất tốt đẹp của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”5. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” với nhân dân sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và Đảng ta.

Có thể nói, “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” là căn bệnh còn tồn tại khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay và rất nguy hại, giống như sâu mọt đục khoét làm cho “cây mất gốc”, sớm muộn gì cũng sẽ đổ. Nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không quan tâm đến chính trị, lười học lý luận chính trị, nhất là nghị quyết của Đảng, có lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với thời cuộc và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đơn vị, địa phương, chỉ chăm lo thu vén cá nhân; ngại va chạm, giữ tâm thế trung dung với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”; không tích cực tham gia đấu tranh với những vi phạm, biểu hiện xấu, nhận thức, hành vi lệch lạc ở xung quanh để xây dựng đơn vị, địa phương đoàn kết, vững mạnh, phát triển.

Chính vì vậy, chữa trị triệt để “căn bệnh” này là vấn đề cấp bách, đòi hỏi kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tư tưởng: “lấy dân làm gốc”, tinh thần trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, chia sẻ với dân, giúp đỡ dân,… làm “điểm mấu chốt” để khắc phục bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị trên thực tế; đồng thời, quán triệt, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trên cơ sở đó, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến mạnh mẽ về hành động trong thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao; trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, biết đau với nỗi đau của nhân dân, luôn trăn trở, sáng tạo, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấu triệt, thực hiện tốt phương châm: tất cả vì sức khỏe, an toàn và hạnh phúc của nhân dân; không được để một người dân nào phải chịu đói, khát, không chỗ ở.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương cần tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng. Đổi mới và nâng cao chất lượng nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên một cách công khai, minh bạch; kiên quyết sàng lọc, đưa những cán bộ, đảng viên không còn đủ tư cách, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước công việc ra khỏi Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Nếu cảm thấy mình không đủ năng lực, trách nhiệm thì dẹp sang một bên để người khác làm”. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, bồi đắp và nâng cao ý chí để làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, làm tấm gương sáng để quần chúng học tập, làm theo. Thực tế cho thấy, ở bất cứ cơ quan, đơn vị, địa phương nào mà cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có năng lực công tác và hết lòng vì dân thì được nhân dân tôn trọng, yêu mến, nể phục, tin tưởng và noi theo.

Để có cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, điều trị tận gốc “căn bệnh” nguy hiểm này, cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, quy chế trên các mặt công tác để nhân dân tham gia giám sát, đóng góp xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tiếp dân, đối thoại với dân, tiếp thu những đóng góp chân thành, quý báu của nhân dân, giải quyết dứt điểm những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lan tỏa gương người tốt, việc tốt, những việc tử tế trong nhân dân và toàn xã hội. Qua đó, để quy chiếu, tạo “hệ miễn dịch” với thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng vai trò, sứ mệnh cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

 

XUYÊN TẠC ĐỜI TƯ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH -  TỘI ÁC CỦA HOÀNG TẤT THẮNG

Tâm Công

Ngày 14 tháng 4 năm 2022, Hoàng Tất Thắng đã tung lên trang Danlambao bài viết: “Dâm loàn và cộng sản” với nội dung cho rằng cụ Hồ có rất nhiều vợ, con; không đứng đắn với phụ nữ… nhằm xuyên tạc đời tư, hạ bệ hình tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết thể hiện bản chất xảo trá và phản động, là tội ác không thể tha thứ của Hoàng Tất Thắng và bọn Danlambao. Tuy nhiên, thực tiễn đã minh chứng: Suốt đời Hồ Chí Minh đã hy sinh đời tư để hiến mình cho dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới đã được người dân nước Việt suy tôn và nhân loại tiến bộ vinh danh, ca ngợi. Song, Hồ Chí Minh không phải là thánh nhân mà là một con người bằng da, bằng thịt, có gia đình, bè bạn, có tình cảm yêu thương nam nữ… nhưng Người đã gác lại và tự nguyện hy sinh những nhu cầu riêng tư mà rất đỗi con người ấy để làm cách mạng, giải phóng dân tộc.

Ngày 3-11-1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm, anh trai của Hồ Chí Minh, đến thăm em, nhân lúc vui vẻ có hỏi em mình: Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?. Hồ Chí Minh trả lời hóm hỉnh: Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này, đến nay đã tu, tu trót, qua thì thì thôi. Em không phải là người tu hành nhưng vì việc nước quên việc nhà.

Tháng 1 năm 1947, Hồ Chí Minh viết trong bức thư chia buồn khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng, người theo đạo Thiên Chúa, oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc: Ngài biết đấy, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc.

Ngày 16-7-1947, trả lời câu hỏi thứ mười của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn.

Năm 1948, cũng trong thời kháng Pháp, trong cơ quan Phủ Chủ tịch ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh là người hay khơi các trò chơi sau giờ làm việc. Có khi đó là một buổi tối lửa trại, tự diễn tuồng, chèo, kịch tại chỗ, có cả hoạt náo viên, có khi là họa thơ, đối thơ, v.v. Trong những buổi vui vẻ như vậy, nhiều người đề nghị Hồ Chí Minh lấy vợ. Có lần Hồ Chí Minh nói: Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc - Nam sum họp một nhà!. Còn Phan Anh, khi thấy sức khoẻ của Hồ Chí Minh có phần giảm sút trong những ngày gian khổ tại An toàn khu (ATK) năm 1948 lúc Hồ Chí Minh 58 tuổi, trông Hồ Chí Minh đã già lắm rồi, có đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người thân thương hằng ngày săn sóc, thì Hồ Chí Minh thủng thẳng nói: Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!.

Tóm lại, suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh đời tư, không vợ, không con để hiến mình cho dân tộc. Sự hy sinh cao cả đó của Người đã được khắc sâu trong lịch sử dân tộc và trong lòng mỗi người dân đất Việt. Cho đến bây giờ, trong mỗi con tim, khối óc người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo vẫn luôn ghi nhớ công lao trời biển của Bác và không khỏi xót xa, thương cảnh suốt đời không vợ, không con của Người… Chính vì thế, nhiều gia đình ngoài thờ cúng tổ tiên còn thờ ảnh Bác. Tất cả điều đó đã thể hiện sự tôn kính, cảm phục, đánh giá khách quan, sự ghi nhận và vinh danh xứng đáng đối với sự dâng hiến trọn đời cho dân tộc của Bác.

Song, bọn phản động luôn tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc bằng những luận điệu dơ bẩn. Tuy nhiên, càng tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng càng lộ rõ âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm, bản tính dơ bẩn và sự bất lực, vô vọng của chúng, làm cho chúng càng trở nên xấu xí, đê hèn... Mặc dù chúng mang dòng máu Việt, nói tiếng Việt nhưng tâm hồn, suy nghĩ và hành động của chúng luôn đi ngược lại lợi ích của quốc gia dân tộc, chúng đã bán mình cho quỷ dữ, sẵn sàng quỳ gối, ôm gót bọn thực dân, đế quốc chỉ vì mấy đồng USD nhơ nhuốc. Nhân dân Việt Nam không bao giờ đồng tình, tin theo và tha thứ cho những kẻ phản động, hại dân, bán Nước đó.

 

 

 

 

 

Chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước Việt Nam

thể hiện ý Đảng lòng dân

          Sau khi Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII bế mạc, trên trang facebook các nhân, đối tượng Trần Văn đã tán phát bài “Tước quyền tư hữu đất đai là tước tất cả”; hay bài viết “Đất đai vẫn thế - quyền rơm, vạ đá”. Với những luận điệu xuyên tạc bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5 Khóa III của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, bài viết đã thể hiện ý đồ xấu xa của một tên phản động nhằm phản đối quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về việc quản lý, sử dụng đất đai; vu cáo Luật Đất đai của Việt Nam “là luật ăn cướp đất của dân”, bội nhọ, nấu xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước; đồng thời kích động người dân xuống đường đấu tranh đòi “quyền sở hữu tư nhân” về đất đai.

          Tại Điều 4, Luật Đất đai năm 2013 của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” và sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương 5 Khóa XIII đã ban hành Nghị quyết mới về “Tiếp tục đối mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đây chính là sự kế thừa, phát triển hợp quy luật đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Hội nghị tiếp tục khẳng định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với các địa phương.

          Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có chính sách phù hợp đối với đối tượng, loại hình sử dụng đất để khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.

          Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hoá công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền; giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.

          Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai.

          Như vậy, quyền sở hữu đất đai theo Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Việt Nam và Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII của Đảng về tiếp tục đối mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao là rất đúng đắn, khoa học, hợp ý Đảng, lòng dân. Cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, đất đai được Nhà nước quy định rất chặt chẽ và được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật. Tuy nhiên, lợi dụng một số sai phạm, yếu kém trong quản lý đất đai của một số cán bộ ở địa phương, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phần tử phản động đã xuyên tạc bóp méo kết quả của Hôi nghị Trung 5 khóa XIII. Những nội dung xuyên tạc về chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là hết nham hiểm, nhằm gây mất an ninh trật tự xã hội. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, phản bác và khẳng định rằng chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là hợp ý Đảng, lòng dân.

 

ĐỀ CAO CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VÈ QUAN ĐIỂM QUỐC PHÒNG, AN NINH CỦA ĐẢNG TA

Trucvang

 

Nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa việc tăng cường quốc phòng an ninh hiện nay của nước ta là một tất yếu khách quan. Tuy vậy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, âm mưu chống phá đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng ta. Họ cố tình bịa đặt, hướng lái dư luận, kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với hoạt động quốc phòng, an ninh. Thông qua việc sử dụng các trang mạng xã hội và một số báo, đài phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài, chúng ra sức xuyên tạc nhằm tạo sự hoài nghi của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Từ đó, kích động lôi kéo các phần tử bất mãn, cực đoan chống phá Đảng, Nhà nước, và đường lối cách mạng của Việt Nam.

Trên các trang mạng, các thế lực thù địch cố tình thêu dệt, bịa đặt về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của Đảng ta. Chúng cho rằng: Đảng, Nhà nước ta vì sợ mất vị trí, vai trò lãnh đọa, cầm quyền đất nước và xã hội mà ám ảnh, hù dọa về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, về nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược,... Thâm hiểm hơn, họ còn rắp tâm quy kết: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hineej đại là bị “cuốn theo” hoặc “khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”; từ đó, mưu đò “chống lại một nước thứ ba”.

Âm mưu, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là hết sức nguy hiểm, gây hoang mang, tạo sự nghi ngờ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội, Công an hiện đại của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, tác động tiêu cực đến quá trình triển khai, thực hiện đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh; kìm hãm và gây bất lợi cho ta trong quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là với cac nước lớn, các nước trong khu vực, cũng như bảo đảm hòa bình cho sự ổn định, phát triển đất nước...

Tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Hiện nay, trước các tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với sự xuất hiện của ác hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, Công an, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Đồng thời, còn là yêu tố trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Việc củng cố quốc phòng, an ninh là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, trình độ khoa học – công nghệ của đất nước và xu thế của khu vực, thế giới; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ tkhis, trang bị, mà hiện đại trên tất cả các nội dụng cấu thành sức mạnh chiến đẫu của Quan đội trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênnin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nếu xa rời những nguyên tắc, yêu cầu trên sẽ dẫn đến xây dựng Quân đội theo hướng quân đội “nhà nghề” như sự hô hào của các thế lực thù địch “Quân đội nên trung lập, đứng ngoài chính trị”, sẽ làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, không những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân, mà còn dẫn đến những nguy hai khôn lường.

Vì vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác, đập tan những luận điệu xuyên tạc quan điểm về quốc phòng, an ninh của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng nói chung, đường lối lãnh đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh nói riêng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.  

 

 

 

LẠI LÀ LUẬN ĐIỆU ĐÊ HÈN CỦA BỌN VIỆT TÂN

                                      Nam Đình

Có thể nói, lướt qua một số trang mạng xã hội, chúng ta lại thấy tổ chức Việt Tân, đăng tải những bài viết với nội dung xuyên tạc, sai lệch về chính sách đối ngoại của Việt Nam, trong đó có mối quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, cho rằng chúng ta nịnh bợ Hoa Kỳ, coi Hoa Kỳ là đối tác quan trọng để đi ăn xin tại Mỹ. Nhưng, “Việt Tân” ơi, dù bè lũ Việt Tân có nói gì đi chăng nữa, thì ai cũng biết đây là tổ chức phản động. Càng nói, càng thấy sự phản động, xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Rõ ràng, chúng thấy được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, nên cố tình không hiểu và rêu rao trên mạng để hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam. Nhắc lại để tổ chức Việt Tân thấy: Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định rõ tư tưởng chỉ đạo đối ngoại là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nguyên tắc đối ngoại là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam. Ngoài ra Đảng ta cũng khẳng định: Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn; lợi ích của mỗi chủ thể đan xen nhau, vấn đề lợi ích mang tính toàn cầu ngày càng gia tăng. Vì thế, cần hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa đối tác và đối tượng: trong một chủ thể có thể lúc này là đối tác, lúc khác lại là đối tượng, trong điều kiện nhất định chúng lại chuyển hóa lẫn nhau. Sự chuyển hóa còn có thể diễn ra trong cùng một chủ thể, trong các điều kiện khác nhau cả hai mặt đối tác, đối tượng song trùng tồn tại. Như vậy, mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng là biện chứng, không tách rời. Trong đối tượng có mặt, có nội dung chúng ta cần hợp tác; trong đối tác nhiều nội dung, lĩnh vực chúng ta cần hết sức chú ý, đề phòng. Hai mặt luôn nằm trong mối quan hệ biện chứng, song hành lẫn nhau, không bao giờ tách rời.

Như vậy, mọi quốc gia, tổ chức đều nằm trong quan hệ đối tác, và là đối tượng của chúng ta. Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ, quan hệ trên tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi, vì lợi ích chung của hai quốc gia, chứ không phải “ăn xin” như kiểu bè lũ Việt Tân dùng nhé.

“Việt Tân” còn nhớ vào sáng 29-7-2021, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Phan Văn Giang đã chủ trì lễ đón chính thức Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin...Bộ trưởng Lloyd Austin vui mừng thông báo với Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, kết quả tốt đẹp của cuộc hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phan Văn Giang. Bộ trưởng cho biết Hoa Kỳ mong muốn tiếp tục được chứng kiến sự phát triển thịnh vượng, hùng cường của Việt Nam; đồng thời bảy tỏ hy vọng tiếp tục được hợp tác chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan của Việt Nam trong tương lai. Vào ngày 25/01/2022 Trong cuộc điện đàm với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, phó trợ lý tổng thống Mỹ Kurt Campbell và trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Kritenbrink mong muốn nâng tầm quan hệ với Việt Nam lên mức cao hơn.

Ngoài ra chuyến công tác “ba trong một” của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu, vừa dự Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN – Hoa Kỳ, thăm, làm việc tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc từ 11-17/5, mang nhiều ý nghĩa và đạt nhiều kết quả rất quan trọng cả về đa phương và song phương. Góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

Qua đây chúng ta thấy rõ âm mưu chống phá, phản động của Việt Tân, bằng cái nhìn phiến diện, thiếu hiểu biết..nên luôn bị đấu tranh, thải loại khỏi xã hội./.

 

 

 

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH

QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM - GÓC NHÌN TỪ CHIẾN SỰ Ở UKRAINE

Nguyễn Tuy

 

          Thời gian qua liên quan vấn đề chiến sự Ukraine, các thế lực thù địch đã công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó họ nêu những "đề xuất", "kiến nghị" đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam.

          Những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc nào. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước bạn bè, nhưng chúng ta không tham gia khối liên minh quân sự nào của Liên Xô và Đông Âu. Chúng ta tham gia thành lập khối liên minh Việt Nam - Lào - Campuchia (13-3-1951) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và tay sai, giành độc lập hoàn toàn, xây dựng đất nước, làm cho nhân dân ba nước được tự do, hạnh phúc và tiến bộ. Đây là liên minh mang tính tự vệ, chính nghĩa trong vai trò như một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm lúc đó. Xuyên suốt lịch sử quân sự Việt Nam, cho đến nay, không có quan điểm lý luận liên minh quân sự để chống lại nước khác, hoặc như là một giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong điều kiện hai cuộc kháng chiến cực kỳ tàn khốc, ác liệt, gian khổ và kéo dài, Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ không tham gia liên minh quân sự với cường quốc.

          Trong điều kiện hòa bình hiện nay, khi mà xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chủ đạo thì việc các nước giúp nhau bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc không hề đơn giản. Những liên minh “thần thánh” đều là giả tưởng trong đầu óc của những nhà huyễn tưởng, không có chỗ đứng trong thực tiễn chính trị - quân sự sống động, phức tạp và thực dụng hiện nay./.

 

 

"DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" LÀ "MỘT CUỘC CHIẾN TRANH

KHÔNG CÓ KHÓI SÚNG"

Phạm Xuân

Chủ nghĩa đế quốc trước sau vẫn coi sự tồn tại của các nước xã hội chủ nghĩa là mối đe dọa lớn nhất đối với chế độ tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng ưu thế về quân sự, ngay từ khi nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện - nước Nga Xô Viết, chủ nghĩa đế quốc đã dùng lực lượng quân sự can thiệp hòng bóp chết nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa non trẻ này. Sau đó là nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ, kể cả chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa đế quốc luôn nhằm vào tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng đều thất bại, thảm hại nhất là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ - nước đế quốc đầu sỏ, lớn mạnh nhất.

Dùng vũ lực thất bại, nhưng mục tiêu xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa vẫn không thay đổi. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược, chuyển từ phương thức chiến tranh, tiến công bằng sức mạnh quân sự sang phương thức "diễn biến hoà bình", "tiến hành một cuộc chiến tranh không có khói lửa" sử dụng các biện pháp “phi vũ trang” để giành "chiến thắng không cần chiến tranh".

Các biện pháp chủ nghĩa đế quốc dùng để thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" là:

"Chiến tranh tâm lý" chống chủ nghĩa xã hội trên mặt trận tư tưởng, tinh thần. Chúng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là các đài phát thanh, các chương trình truyền hình,... ngày đêm hướng vào các nước xã hội chủ nghĩa, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa xã hội, tuyên truyền, tán dương chế độ tư bản, kích động tâm lý chống đối trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa. "Chiến tranh tâm lý" còn được thực hiện bằng "tuyên truyền rỉ tai". Đó là cách thông qua "rỉ tai" để phao tin đồn nhảm có dụng ý, kích động, mua chuộc, đe dọa khống chế... Đây là một thủ đoạn được các chuyên gia "chiến tranh tâm lý" dùng rất phổ biến. Chúng phân tích rằng: các phương tiện thông tin đại chúng có những hạn chế như báo chí, tài liệu đưa vào đã khó, lưu truyền cũng khó, luôn bị cấm đoán, thu hồi và lượng người đọc không thật nhiều; đài phát thanh truyền hình cũng chỉ có thời lượng phát sóng nhất định, còn bị gây nhiễu và nhiều nơi còn chưa có máy thu thanh, thu hình... Vả lại, còn phải giải quyết những vấn đề kỹ thuật và kinh phí lớn... Còn "tuyên truyền rỉ tai" thì thực hiện rất đơn giản, bất cứ thời gian nào, bất cứ ở đâu, với bất cứ ai, thường kích thích sự tò mò, gây thích thú hơn là những tin tức công khai; người tung tin không để lại dấu tích và sau đó có nhiều người vô tình làm "cộng tác viên tự nguyện" loan truyền rộng rãi với sự thêm bớt và bình luận "sáng tạo" hơn.

Cách "tuyên truyền rỉ tai" này tuy thô sơ nhưng có hiệu quả không nhỏ, làm cho người ta nửa tin, nửa ngờ, bi quan chán nản hoặc bức xúc, mất niềm tin, trở thành người tuyên truyền không công cho chủ nghĩa tư bản...

Trong đòn "chiến tranh tâm lý", hai cách hiện đại và thô sơ này được dùng đồng thời, kết hợp, hỗ trợ nhau.

"Chiến tranh gián điệp" chống phá về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Thông qua hoạt động gián điệp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tác động vào đường lối, tổ chức, nhân sự để dẫn tới chệch hướng về đường lối, phá vỡ về tổ chức, cài cắm nội gián để chuyển hoá chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa. Các thủ đoạn của "chiến tranh gián điệp" là:

Kích động các phần tử thoái hoá biến chất, bất mãn, có quan điểm chống đối Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa để gây mâu thuẫn, chống phá từ bên trong.

Lôi kéo, mua chuộc, khống chế cán bộ thông qua những người đi công tác, học tập ở nước ngoài, thông qua các quan hệ liên doanh, liên kết... để phát hiện, bồi dưỡng "hạt giống tự do" cài cắm nội gián.

Tác động từ bên ngoài, hình thành các tổ chức chính trị phản động trong nước, hoạt động dưới sự chỉ đạo, tiếp tay của các lực lượng phản động nước ngoài.

Thu thập tin tức tình báo trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... để chống phá, làm suy yếu các lĩnh vực này của các nước xã hội chủ nghĩa.

Phá hoại về kinh tế, thông qua quan hệ kinh tế - kể cả viện trợ - để gây sức ép về nhiều mặt, chèn ép, phá hoại, thậm chí bao vây, cô lập, cấm vận, gây thiệt hại kinh tế, tiến tới khống chế, "thôn tính về kinh tế".

"Xâm lăng văn hoá", bằng việc du nhập văn hoá độc hại, các giá trị đạo đức, lối sống phương Tây vào các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, dần dần làm mai một bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc, hướng theo văn hoá, lối sống phương Tây trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Chống phá về ngoại giao, lợi dụng quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chủ nghĩa đế quốc tăng cường hoạt động ngoại giao chống các nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết là kích động gây chia rẽ giữa các nước xã hội chủ nghĩa; nuôi dưỡng tâm lý ly khai ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân tộc tiến bộ lợi dụng các tổ chức quốc tế gây sức ép ngoại giao, can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí cô lập về ngoại giao đối với các nước xã hội chủ nghĩa.

Tất cả những biện pháp trên đều được sự hậu thuẫn của "răn đe quân sự".

Như thế, các biện pháp của chiến lược "diễn biến hoà bình" đều không trực tiếp dùng vũ lực, không thực hiện phương thức chiến tranh, nhưng nó diễn ra rất quyết liệt và vô cùng nguy hiểm, nhằm mục đích xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, bằng chiến lược "diễn biến hoà bình", chủ nghĩa đế quốc đã tác động góp phần quan trọng làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Cho nên "diễn biến hoà bình" thực chất không khác gì “một cuộc chiến tranh không có khói súng”, chỉ khác chiến tranh thông thường là không trực tiếp xung đột vũ trang, chỉ dùng các biện pháp “phi vũ trang”, vì thế được coi là "một cuộc chiến tranh không có khói súng".

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG

SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

                                                                            

Voi Rừng

 

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh rất gay go, phức tạp. Tham nhũng hiện nay không còn là cá biệt, không còn là hành vi của một vài người mà là của “một bộ phận không nhỏ” như Đảng đã định.

Vì vậy, đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống không chỉ là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm của toàn xã hội, đòi hỏi phải huy động được nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp quyết liệt. Đặc biệt, phải dựa vào nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nhân dân là tai mắt của Đảng. Và “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Đảng Cộng sản Việt Nam sinh ra từ phong trào của Nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là vì lợi ích của Nhân dân; cán bộ, đảng viên của Đảng phục vụ Nhân dân và trưởng thành từ phong trào Nhân dân. Vì vậy, Đảng muốn hoàn thành mục tiêu lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh Đảng phải dựa vào Nhân dân. Hơn 35 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn không thể phủ nhận. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội đang nổi lên những vấn đề gây bức xúc trong nhân dân “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “Tự diễn biến” “tự chuyển hóa”; “tham nhũng, lãng phí trong nhiều lĩnh vực còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta” (Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng). Những bức xúc trên nếu không ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả sẽ làm suy giảm niềm tin, mối quan hệ của Nhân dân với Đảng và chế độ. Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là đòi hỏi bức xúc, cấp bách của Nhân dân.

Thực tiễn trong những năm qua đã cho thấy, kết quả của công cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có sự đóng góp to lớn của Nhân dân. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng được phát hiện là do Nhân dân và báo chí cung cấp thông tin. Như vậy, không có lý do gì không dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò to lớn và sức mạnh của nhân dân để ngăn chặn quốc nạn này.