Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ÂM MƯU GÌ KHI XUYÊN TẠC MÔ HÌNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA NƯỚC TA?

 

Với mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục xuyên tạc, hướng đến bác bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Họ cho rằng: kinh tế thị trường mang tính tự phát do đó sẽ phát triển không ổn định. Tính chất tư nhân của sản xuất do các chủ thể hoạt động cạnh tranh quyết liệt, không lành mạnh, nên thường xuyên tạo ra sự mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Họ cho rằng, phát triển kinh tế thị trường thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là ở Việt Nam, chủ trương gắn kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở khoa học, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa, không thể "ghép đôi". Thậm chí, theo họ, sự kết hợp một cách "khiên cưỡng" đó đã dẫn đến tình trạng tụt hậu xa về kinh tế và càng làm càng thất bại. Cùng với đường lối sai lầm đó, họ thổi phồng rằng, những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, thất thoát tài sản, kiểu làm ăn kém hiệu quả sẽ đưa nước ta tới tình trạng "khủng hoảng toàn diện".

Gần đây, trước và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trên một số diễn đàn, tiếp tục xuất hiện những luận điệu phủ nhận sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoặc cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một "khái niệm mơ hồ", thực hiện nó thì nền kinh tế không phát triển… và "kiến nghị không nên để cụm từ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội XIII".

Có thể thấy rằng, họ đã cố tình xuyên tạc, làm ngơ với những nỗ lực, những kết quả mà nền kinh tế thị trường dưới sự định hướng, can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã mang lại. Chúng ta hoàn toàn có thể bác bỏ những luận điệu sai trái này bằng những luận cứ khoa học.

-ĐHD-

  

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

          Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

          Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán.

          Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.

          Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ.

          Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội... Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp. 

          Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy!

          Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp.

          Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo.

          Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

          Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

          Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này./.

-NĐT-

 

BÀI HỌC TỪ MYANMAR

Việc chính phủ cầm quyền ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ sau một cuộc đảo chính của quân đội có lẽ sẽ là bài học đắt giá với rất nhiều chính đảng cầm quyền trên thế giới. Một trong những bài học đó là “phi chính trị hóa Công an, Quân đội”.

Sau sự kiện Tổng thống Myanmar Win Myint, Cố vấn nhà nước Aung San Suu Kyi và một loạt nhân vật cấp cao khác của đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) cầm quyền bị Quân đội bắt. Người phát ngôn của NLD Myo Nyunt sau đó xác nhận thông tin và nói rằng với những gì đang diễn ra thực sự là một cuộc đảo chính.

Ngay sau đó, quân đội Myanmar ban bố tình trạng khẩn cấp và tuyên bố quyền lực được giao lại cho Tổng tư lệnh Min Aung Hlaing. Quân đội Myanmar cũng tuyên bố sẽ kiểm soát chính quyền trong vòng 1 năm. Binh lính đã được triển khai bên ngoài tòa nhà chính quyền Thủ đô Naypyitaw và tòa thị chính thành phố Yangon. Hệ thống viễn thông, truyền hình, Internet ở Myanmar gián đoạn.

Việc quân đội Myanmar tiến hành đảo chính được xem là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn kéo dài giữa quân đội với chính phủ dân sự cầm quyền ở quốc gia này, kể từ sau cuộc tổng tuyển cử vào tháng 11/2020, với kết quả NLD giành thắng lợi áp đảo. Cụ thể, NLD thắng gần 400 ghế trong Quốc hội (hơn 60%), quân đội có 25% số ghế đương nhiên. Riêng Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) được quân đội ủng hộ, chỉ giành được 30 ghế.

USDP không công nhận kết quả, cáo buộc có gian lận trong cuộc bầu cử và yêu cầu Ủy ban Bầu cử phải điều tra và giải quyết. Đảng này cho rằng có đến 10 triệu phiếu gian lận. Ngày 26/1, quân đội Myanmar ra tối hậu thư cho Ủy ban Bầu cử, tuyên bố sẽ hành động nếu ủy ban này không giải quyết cáo buộc gian lận về danh sách cử tri.

Ủy ban Bầu cử ngay lập tức phủ nhận có gian lận trên diện rộng, khẳng định bầu cử đã diễn ra một cách tự do, công bằng, đáng tin cậy và “phản ánh ý nguyện của người dân”. Tuy vậy, hơn 280 cáo buộc đang được điều tra và Tòa tối cao Myanmar bắt đầu xử lý khiếu nại về bầu cử từ ngày 29/1. Cuối cùng, chính biến đã xảy ra vào rạng sáng 1/2, chỉ ít giờ trước khi Quốc hội khóa mới họp phiên đầu tiên.

Cuộc chính biến ở Myanmar có thể sẽ để lại nhiều hệ lụy to lớn. Nó có thể đẩy nền dân chủ non trẻ ở Myanmar rơi vào khủng hoảng. Trong khi đó, việc đóng cửa các ngân hàng và những bất ổn chính trị sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Myanmar vốn bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Mặt khác, đảo chính có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ các thỏa thuận giữa chính quyền với các nhóm nổi dậy. Điều này có thể một lần nữa đẩy Myanmar vào vòng xoáy của bạo lực.

Các lực lượng nổi dậy có thể có động cơ để chấm dứt các thỏa thuận ngừng bắn và tìm cách mở rộng ảnh hưởng. Một hệ lụy có thể đã thấy rõ, đó là các cuộc biểu tình của người dân. Cuộc đảo chính của quân đội Myanmar đã làm dấy lên làn sóng phản đối không chỉ trong nước mà cả cộng đồng quốc tế.

Một điều dễ nhận thấy rằng, tương tự như ở Thái Lan, quân đội ở Myanmar có vị thế đặc biệt và rất hay chấp chính. Tại Thái Lan, quân đội đã nhiều lần làm đảo chính và thiết lập chính quyền quân sự lâm thời. Trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, quân đội Myanmar không thực hiện nhiều cuộc đảo chính như Thái Lan nhưng thời gian họ nắm giữ chính quyền nhà nước lại kéo rất dài. Sau khi tiến hành đảo chính vào năm 1962, quân đội Myanmar đã duy trì chính quyền quân sự suốt từ năm đó đến năm 2011. Điểm chung giữa quân đội Thái Lan và quân đội Myanmar là không nằm dưới sự lãnh đạo của bất kỳ một chính đảng nào. Họ có quyền lực rất to lớn và được phép nắm quyền trong trường hợp khẩn cấp.

Tại sao quân đội Myanmar lại tiến hành đảo chính? Vì sao chính phủ dân sự ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ? Trong bài viết này, tác giả xin không đề cập. Vấn đề tác giả muốn đề cập trong bài viết này, đó chính là mối liên hệ giữa sự kiện vừa xảy ra ở Myanmar với vấn đề “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang đang được các thế lực thù địch, phản động rêu rao ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, thời gian qua, nhiều đối tượng thù địch trong và ngoài nước vẫn hang ngày rêu rao những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập; đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm.

Những người này cho rằng, Công an, Quân đội phải “trung lập”, “đứng giữa”, không thuộc một đảng phái nào, “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”… Họ còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả” là giải phóng dân tộc, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”.

Có thể thấy rằng, đây là những luận điệu sai trái, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công an, Quân đội; làm cho lực Công an, Quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa.

-VA-

 

 

HỒ CHÍ MINH – MỘT CON NGƯỜI GIẢN DỊ

 

          Trong tiềm thức mỗi người con đất Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại và nhà văn hoá kiệt xuất của dân tộc ta mà còn là một trong những vĩ nhân của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp của Người gắn liền với lịch sử hiện đại của dân tộc ta và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Lễ truy điệu Người đã viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

          Cuộc đời và sự nghiệp của Bác đã trở thành di sản lớn lao của dân tộc ta. Vì thế, việc học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ.

 

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người vĩ đại. Người để lại cho mỗi chúng ta bao điều cần học tập. Một trong những đức tính ấy là sự giản dị, khiêm tốn. Có thể khẳng định, phong cách khiêm tốn, giản dị của Hồ Chí Minh là kết tinh của văn hoá tốt đẹp của người Việt Nam bao thế hệ, thừa hưởng đạo đức, lối sống thanh bạch giản dị của gia đình, được thể hiện sống động qua từng cử chỉ hành động trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người từ khi còn nhỏ đến lúc giữ cương vị cao nhất của dân tộc Việt Nam. Biết bao vần thơ, áng văn bất hủ ca ngợi về phong cách khiêm tốn, giản dị của Hồ Chí Minh, bởi phong cách khiêm tốn, giản dị của một con người là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người.

                                      “Bác sống như trời đất của ta,

                                      Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa”

                                                                                      (Tố Hữu)

          Với bao thế hệ Việt Nam, thì Hồ Chủ tịch gần gũi thân thương, đáng kính “Người là Cha, là Bác, là Anh” và vô cùng khiêm tốn giản dị. Bác của chúng ta là một tấm gương sáng ngời về đức tính giản dị. Mặc dù là Chủ tịch nước, là nguyên thủ của một quốc gia nhưng Bác Hồ lại có một cuộc sống hết sức giản dị. Nơi làm việc cũng là nơi ở của Người chỉ là một ngôi Nhà sàn đơn sơ với các đồ đạc đủ dùng ở mức tối thiểu và cần thiết nhất. Hàng ngày, Người thường dùng bữa với vài ba món ăn dân dã, đơn giản. Trang phục Người thường mặc nhất là bộ bà ba nâu, bộ ka ki vàng và đôi dép cao su… Sự giản dị của Người còn thể hiện ở trong từng lời nói luôn luôn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Nói về chủ nghĩa xã hội, Người nói một cách thật dễ hiểu là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau được chữa bệnh”.

          Suốt cả cuộc đời, Bác Hồ luôn là một tấm gương mẫu mực về sự giản dị, khiêm tốn. Điều quan trọng hơn, tư tưởng của Người không chỉ thể hiện bằng lời nói mà luôn đi đôi với việc làm. Đức tính giản dị, khiêm tốn, của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo, nhất là trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hiện nay.

          Học tập đạo đức của Bác Hồ chính là học tập và rèn luyện cho được đức tính khiêm tốn, giản dị của Người. Điều này vừa dễ lại vừa khó. Dễ bởi đó không phải là những gì quá cao siêu. Khó bởi phải thật sự có một tấm lòng thật trong sáng thì mỗi người mới có thể vượt qua các cám dỗ của quyền lực, danh vọng… luôn diễn ra trong cuộc sống thường ngày. Do đó, mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta phải học tập, tu dưỡng và rèn luyện mình một cách tự giác, thường xuyên các đức tính quý báu ấy./.

-NMT-

 

 

TUỔI TRẺ - HÃY XỨNG ĐÁNG LÀ “MÙA XUÂN CỦA XÃ HỘI ”!

 

          Cứ mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam chúng ta lại chào đón cái Tết cổ truyền dân tộc. Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần nhắc tới chữ “Xuân” với bao ý nghĩa tốt đẹp. Người nói: “Mùa Xuân là Tết trồng cây – Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”. Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

          Với ý nghĩa: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí, vai trò của thanh niên trong tiến trình lịch sử và trong từng thời kỳ cách mạng. Thanh niên là lực lượng đông đảo, hùng hậu, dũng cảm, có những ưu thế nổi trội: trẻ, khỏe, chiếm số đông trong xã hội, hăng hái nhiệt tình, nhạy bén tiếp thu cái mới. Thanh niên tiêu biểu cho sức sống, sức phát triển của dân tộc, nếu được lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện, sẽ trở thành động lực chính, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng đất nước và dựng xây chủ nghĩa xã hội.

          Khi bắt đầu truyền bá tư tưởng cách mạng cho dân tộc, Hồ Chí Minh đã chọn thanh niên là đối tượng đầu tiên - lực lượng trẻ đầy lòng yêu nước và sẵn sàng hy sinh cho cách mạng. Tháng 6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, xuất bản tờ báo Thanh Niên. Năm 1926 - 1927, Người trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo các thanh niên Việt Nam yêu nước, rồi đưa trở về nước xây dựng phát triển phong trào cách mạng.

          Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Người viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, một phần lớn là do thanh niên. Thanh niên muốn là người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho tương lai đó”.

          Xúc động biết bao khi đọc lời di chúc của Bác trước lúc từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh của thanh niên và căn dặn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục tuổi trẻ: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

          Từ ngày Bác đi xa, lớp trước tiếp lớp sau, lớp này qua lớp khác, thanh niên Việt Nam lấy hiệu triệu của Bác Hồ kính yêu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” làm lẽ sống, nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Đoàn, với ý chí “sức ta là sức thanh niên – thế ta là thế đứng trên đầu thù” (Tố Hữu). Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, trong điều kiện mới của khu vực và thế giới, thế hệ trẻ Việt Nam vẫn luôn gắn bó mật thiết với những giá trị văn hoá truyền thống, với những phẩm giá của dân tộc mà điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc.

          Hàng ngày, hàng giờ chúng ta vẫn nghe, vẫn bắt gặp rất nhiều những tấm gương điển hình trên tất cả các mặt hoạt động và công tác. Đó có thể là một bạn trẻ khuyết tật vươn lên trong cuộc sống; là tấm gương của những bạn trẻ dấn thân vào khoa học, là những thanh thiếu niên mưu trí, dũng cảm cứu cả đoàn tàu, những chiến sỹ trẻ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Những năm gần đây, hình ảnh của những chiếc áo xanh tình nguyện đã trở thành quen thuộc ở những nơi gian khổ nhất. Cuộc sống vẫn chói sáng những nghĩa cử cao đẹp. Thế hệ trẻ hôm nay vẫn còn nguyên khát vọng lớn lao là được cống hiến nhiều nhất cho đất nước, mong muốn nối tiếp truyền thống anh hùng của các lớp cha anh, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ kính yêu./.

-PHĐ-

 

NHỮNG MÙA XUÂN CÓ BÁC!

 

 

          Bác Hồ, lãnh tụ kính yêu của Đảng, của dân tộc ta, là hiện thân sáng ngời của cách mạng và kháng chiến, của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người đã có 24 năm cùng toàn dân và toàn quân đón Tết, vui Xuân. Năm nào Bác cũng có thư hoặc thơ chúc Tết. Với dân tộc Việt Nam, mùa Xuân không chỉ thể hiện sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới, mà mùa Xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc.

          Kể từ mùa Xuân đầu tiên nhân dân ta có Đảng, ngày 03/02/1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự đồng lòng, đồng sức của nhân dân, tổng khởi nghĩa Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Sự thành công này đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc. Và, đó cũng là mùa Xuân độc lập đầu tiên nhân dân ta được nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ vào giao thừa năm Bính Tuất.

          Và trong bài "Mừng báo Quốc gia”, nhân Tết Độc lập đầu tiên, Người đã chúc nhân dân cả nước:

                                      "Tết này mới thật Tết dân ta

                                      Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia

                                      Độc lập đầy vơi ba cốc rượu

                                      Tự do vàng đỏ một rừng hoa

                                      Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ

                                      Cả nước vui chung phúc cộng hòa”.

          Lời chúc ấy thật đơn sơ, mộc mạc nhưng thấm đẫm nghĩa tình với triết lý "Tết này mới thật Tết dân ta”, chỉ một câu này thôi đã đủ cho ta thấy được ý nghĩa lớn lao của cái Tết Độc lập đầu tiên của dân tộc. Từ đây, dân ta mới biết thế nào là tự do, bình đẳng, bác ái.

          Sau mùa xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, mùa xuân Bính Tuất 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong giai đoạn này vào mỗi độ xuân về, Bác vẫn luôn làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai. Đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Khi cách mạng gặp khó khăn hay khi gần thắng lợi, Bác luôn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói:

                                      "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi

                                      Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

          Mỗi người con Việt Nam lại không khỏi bồi hôi, sục sôi lòng yêu nước trong từng câu thơ chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 của Bác như hiệu lệnh tiến công:

                                      "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua

                                      Thắng trận tin vui khắp nước nhà

                                      Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

                                      Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!!

          Ngay sau giây phút Bác đọc thơ chúc Tết, cả miền Nam tiến công nổi dậy như vũ bão, làm thay đổi tương quan lực lượng, buộc Mỹ - ngụy chấp nhận cuộc đàm phán bốn bên ở Pa-ri. Đồng bào, chiến sĩ cả nước ta những năm ấy, hầu như ai cũng thuộc thơ chúc Tết của Bác Hồ.

          Xuân Kỷ Dậu (1969) là mùa Xuân thứ 79 của Bác Hồ, mặc dù đã linh cảm mình "sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin", nhưng Tết năm đó, Người vẫn làm thơ chúc Tết rất phấn khích và hào sảng, rung động trái tim đồng bào, chiến sĩ cả nước:
                                     
"Năm qua thắng lợi vẻ vang

                                      Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

                                      Vì độc lập, vì tự do

                                      Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

                                      Tiến lên chiến sĩ, đồng bào

                                      Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!.     

          Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhưng mỗi năm Tết đến, xuân về, toàn dân tộc ta vẫn rộn ràng niềm vui, niềm tự hào “Mừng Đảng, Mừng Xuân”. Với mùa Xuân mới, toàn dân Việt Nam nguyện phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như mong ước của Bác Hồ kính yêu./.

-NXS-

 

KÊ KHAI TÀI SẢN - TỪ TẤM GƯƠNG BÁC HỒ

 

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo kaki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ… Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng… Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất. Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp Cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đến tinh khiết.

Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo.

Chúng ta đang học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Nhưng có lẽ, còn nhiều cán bộ, đảng viên hiểu chưa thấu đáo về giá trị Hồ Chí Minh, nên còn hình thức, thiếu thực tế. Bài học của Bác, từ chính cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Người, rất đơn giản những vô cùng sâu xa: Hãy hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, chắc chắn cái “mủi lòng” vì “nghèo” sẽ không còn trong mỗi cán bộ, đảng viên.

.

-NTH-

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Cùng với luận điệu đòi “phi chính trị hóa quân đội”, khi thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình, các thế lực thù địch, chống phá, cơ hội chính trị tập trung đòi “phi chính trị hóa công an”, “lực lượng công an phải trung lập về chính trị”, “lực lượng công an chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không cần trung thành với đảng phái chính trị nào”… Chúng lặp đi lặp lại những luận điệu như: chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, lạc hậu không còn đúng trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0… để rồi xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bóp méo đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh.

Không chỉ thâm thù về ý thức hệ xã hội chủ nghĩa của chúng ta, nhưng kẻ muốn “phi chính trị hóa công an” còn nhắm tới việc thực hiện toan tính sâu xa, thâm hiểm. Đó là từ thực tế sụp đổ của các chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng thấy rằng muốn xóa bỏ Đảng và chế độ ta thì trước hết phải phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an.

Thực hiện âm mưu đen tối trên, chúng đã tung ra đủ loại thông tin xấu, độc, thất thiệt, bịa đặt, xuyên tạc… hòng tìm cách làm cho cán bộ, chiến sỹ công an suy yếu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, từ đó thúc đẩy các hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phá vỡ bức tường thép quan trọng trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc về bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức lực lượng Công an nhân dân, thậm chí còn trắng trợn cho rằng “công an là công cụ đàn áp của Đảng”; tìm mọi cách chia rẽ công an với nhân dân, với quân đội và các lực lượng khác trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Đồng thời với việc đòi “phi chính trị hóa công an”, các thế lực thù địch, chống phá cũng tìm mọi cách bôi nhọ, hạ uy tín, xuyên tạc, bóp méo hình ảnh người chiến sỹ Công an nhân dân. Chúng triệt để lợi dụng những vụ việc tiêu cực “con sâu làm rầu nồi canh” trong lực lượng công an để thổi phồng, quy kết thành bản chất nhằm xuyên tạc, vu cáo, bôi đen hình ảnh, làm mất uy tín lực lượng công an, kích động quần chúng chống đối, chia rẽ lực lượng công an với người dân.

Một thủ đoạn thâm hiểm nữa là chúng xuyên tạc, bóp méo việc lực lượng công an làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, giải quyết các vụ gây rối trật tự công cộng, chống đối người thi hành công vụ để thành “công an đàn áp dân”, “công an là công cụ của những người có chức, có quyền”, “công an không còn là của nhân dân”… hòng đặt lực lượng Công an nhân dân vào thế đối lập với nhân dân. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị khi thực hiện âm mưu đen tối “phi chính trị hóa công an”, “đặt công an đối lập với người dân” đã triệt để sử dụng công cụ tuyên truyền như các trang mạng xã hội Youtube, Facebook… Cùng với đó là sự vào hùa, phụ họa của một số báo chí, truyền thông nước ngoài như BBC, RFI, VOA, RFA… với cái nhìn thiếu thiện chí, thường xuyên tạc tình hình Việt Nam, hình ảnh quân đội, công an nước ta.

Ra đời trong những ngày sục sôi khí thế Cách mạng Tháng Tám cách đây hơn 76 năm, lực lượng Công an nhân dân ngay từ những ngày đầu tiên được thành lập (ngày 19-8-1945) đã là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo đảm an ninh trật tự, sự bình yên của nhân dân trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, thử thách “thù trong, giặc ngoài”, vận mệnh quốc gia “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trải qua hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Ðảng, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, lực lượng Công an nhân dân cũng luôn giữ vững phẩm chất chính trị cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và nhân dân; mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, nhạy bén, ra sức phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; lập nên nhiều chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc, tô thắm lên lá cờ truyền thống của lực lượng; xứng đáng là lực lượng vũ trang trọng yếu, là “Thanh bảo kiếm” bảo vệ Ðảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Mọi âm mưu, thủ đoạn dù thâm độc tới đâu để chống phá lực lượng Công an nhân dân đều, đã, đang và sẽ thất bại thảm hại./.

-NHN-

 

Người quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Không giỏi ngoại ngữ, không tài hùng biện như Obama, Putin...nhưng ánh mắt, vòng tay của ông cũng đủ siết chặt tình cảm bạn bè thế giới dành cho đất nước mình. Một con người liêm khiết, mẫu mực, trong sáng, chí công, vô tư, cả đời cống hiến, hy sinh vì dân, vì nước; không bao giờ vơ vén, vụ lợi cho bản thân, gia đình khiến ông trở thành tấm gương sáng để đồng đội, đồng chí soi mình.

Đó là một con người nói là làm, làm quyết liệt, làm đến nơi đến chốn. Vì uy tín của Đảng, vì sự tồn vong của chế độ quyết không dung tha cho bất cứ kẻ nào vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc, Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật dù kẻ đó là uỷ viên BCT hay uỷ viên TƯĐ, người đứng đầu ngành, hay một tỉnh; lấy lại niềm tin của dân với Đảng. Có một con người không giỏi công nghệ thông tin, không bao giờ dùng mạng xã hội để truyền tải nhưng những hình ảnh đời thường của ông cũng đủ lay động biết bao lòng người.

Một con người kiệt xuất, một tấm gương mẫu mực, một nhân cách lớn đủ tầm quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước vượt qua chặng đường khó khăn, thử thách tiến lên phía trước. Một “con người đặc biệt” trong “bối cảnh đặc biệt” không những do Đảng cử mà do nhân dân tin tưởng, lịch sử lựa chọn.

Người đó không ai khác là bác NGUYỄN PHÚ TRỌNG, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

-VQH-

 

 

 

VẠCH TRẦN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Hiện nay, Thông qua mạng xã hội, các trang web, chúng tập trung lập các diễn đàn, tọa đàm, phản biện, mượn danh yêu nước, góp ý cho Đảng, nhưng thực chất là để truyền bá những quan điểm sai trái của mình dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “kiến nghị” để tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phục vụ cho âm mưu lâu dài hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta. Đây là hành động không mới, nhưng hết sức nguy hiểm nếu chúng ta không tỉnh táo nhận diện, đấu tranh hiệu quả.

Cụ thể, để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay, chúng sử dụng thủ đoạn đề cao, tuyệt đối hóa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh và cho rằng, nước ta không cần Chủ nghĩa Mác-Lênin mà chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là những luận điệu rất tinh vi của chúng.

Cần lập luận rằng: Nhìn từ thực tiễn, lịch sử phát triển của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra ở từng giai đoạn của lịch sử và thực tiễn đất nước. Đó là một học thuyết cách mạng bởi ở đó không chỉ giải thích thế giới, chỉ ra bản chất áp bức, bóc lột, bất công của xã hội tư bản chủ nghĩa, chỉ ra con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, là con đường đấu tranh cách mạng vô sản, trong cuộc cách mạng vô sản đó, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản; mà quan trọng hơn cả, đó còn là học thuyết giải phóng loài người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, soi đường, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta luôn giành thắng lợi”. Điều này đã được minh chứng bằng thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác của Đảng. Như vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc chủ yếu nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ, cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác-Lênin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Điều có ý nghĩa quyết định là trong bất kỳ tình huống nào, chúng ta phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là quan điểm có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Từ đó, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần làm thất bại mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch./.

-NHT-

 

 

28/1/1941 BÁC HỒ TRỞ VỀ NƯỚC - CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐI TỪ THẮNG LỢI NÀY ĐẾN THẮNG LỢI KHÁC.

 

Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã may mắn có Người, vị Cha già dân tộc, đã dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sau khi tìm được con đường đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Tập hợp những thanh niên yêu nước để bồi dưỡng, rèn luyện, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Ngày 3/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản họp ở Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt sự chia rẽ và khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam.

Ngày 28-1-1941, sau 30 gian khổ tìm con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc về nước, đặt chân lên mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng). Đây là mốc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam. Vậy là sau ba mươi năm từ biệt người cha thân yêu, từ biệt Tổ quốc từ Bến Nhà Rồng, Bác đã trở về với sứ mệnh cao cả, cùng toàn Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đánh đuổi thực dân đế quốc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Tại đây, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941); hội nghị đánh dấu sự chuyển mình trong đường lối chiến lược của đảng; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và vấn đề giai cấp. Hội nghị chủ trương: 'Trong lúc này khẩu hiệu của Ðảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Ðông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật... nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được'.

Ngay sau Hội nghị Trung ương 8, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta đã tổ chức mở các lớp bồi dưỡng, huấn luyện, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân để chuẩn bị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Minh đã được thành lập với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Có thể khẳng định, Mặt trận Việt Minh chính là nền móng để xây dựng nên “ngôi nhà” cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việt Minh là sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê Nin với tinh thần đại đoàn kết dân tộc, truyền thống yêu nước, thương nòi của nhân dân ta được kết tinh từ hàng ngàn đời nay.

Có thể nói, ngày 28/1/1941, ngày Bác Hồ trở về tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam chính là cội nguồn của mọi thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, cả dân tộc đã làm nên cách mạng tháng 8 năm 1945 long trời, lở đất; thành lập nước VN DCCH, đánh bại thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ 07/5/1954 và sau đó là ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, “độc lập, tự do, hạnh phúc” như hôm nay.

-TBH-