Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

 LẤY TRUNG THỰC LÀM CỐT LÕI

Phẩm chất trung thực cần trở thành giá trị cốt lõi trong hệ thống chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Bởi trung thực không những là thước đo giá trị con người, mà còn có khả năng hội tụ, lan tỏa những giá trị văn hóa, đạo đức phổ quát khác.

1. Phẩm chất trung thực luôn được tôn vinh ở ngôi đầu nhân cách con người. Trung thực càng có ý nghĩa bao nhiêu thì không trung thực càng tai hại bấy nhiêu. Đối với cá nhân, không trung thực cũng có nghĩa là giả dối, mà giả dối để lợi mình, hại người thì mất đạo đức. Mất đạo đức là mất tất cả. Đối với cộng đồng, xã hội, nếu gian dối nổi lên chiếm số đông, đẩy trung thực trở thành thứ yếu thì đã đến lúc đạo đức xã hội suy đồi, đáng báo động.

Với cán bộ, đảng viên, đức tính trung thực càng có ý nghĩa quan trọng. Bởi cán bộ, đảng viên trung thực trước là cho mình, sau còn làm gương cho quần chúng. Thực tiễn đời sống cho thấy, những cán bộ đánh mất tính trung thực, vừa mất lòng tin của nhân dân, vừa lạc hướng, nhẹ thì bị kỷ luật, nặng thì lâm vào vòng lao lý.

Chỉ lấy hai ví dụ gần nhất là thấy rõ tác hại của không trung thực. Một là trường hợp Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Lê Đức Thọ vừa bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng mà một trong những vi phạm là kê khai tài sản không trung thực. Hai là trường hợp Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Công Thắng bị đề nghị kỷ luật vì dùng giấy công nhận văn bằng trình độ thạc sĩ giả... Rõ ràng, từ không trung thực, cán bộ mất cả công danh, sự nghiệp và nặng nhất là mất danh dự.

Thế nhưng, thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn có biểu hiện thiếu trung thực, gian dối. Báo cáo mới nhất của Chính phủ về tình hình kê khai tài sản từ tháng 2-2022 đến tháng 4-2023 cho thấy, qua xác minh, các cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện 2.664 người có sai sót... Đặc biệt, các cơ quan đã xử lý 54 người do không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.

Không chỉ trong lĩnh vực kê khai tài sản, các biểu hiện về thiếu trung thực trong cán bộ, đảng viên còn rất đa dạng, như: Khai gian tuổi, khai man hoặc cố tình che giấu tình tiết khi kê khai lý lịch; tung tin đồn thất thiệt về người nọ, người kia, làm rối loạn lòng người, gây mất đoàn kết nội bộ; “tham mưu láo, báo cáo sai”; giấu giếm khuyết điểm, khoe khoang thành tích; lo lót, chạy chọt, mua bán bằng cấp, chức quyền; nói nhiều, làm ít; nói hay, làm dở; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác ngoài hội nghị, nói trước tập thể khác với cá nhân, nói với cấp trên khác với cấp dưới, nói với đảng viên khác với quần chúng; thiếu công bằng, hay thiên vị; “yêu nên tốt, ghét nên xấu”...

Không ít trường hợp từ thiếu trung thực chuyện nhỏ dẫn đến vi phạm to; từ ăn gian, nói dối để thủ lợi ít, lâu quen thành tham ô, tham nhũng, tiêu cực. Hàng chục cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật, bị xét xử thời gian qua đều có điểm chung là thiếu trung thực.

2. Thấu hiểu giá trị to lớn của đạo đức mà tính trung thực là cốt lõi, thước đo, từ nhiệm kỳ Đại hội XII, Trung ương Đảng đã chủ trương tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức. Để xây dựng Đảng về đạo đức, nhất định phải quan tâm đến hai chiều: Một là xây dựng được văn hóa trung thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó lan tỏa ra xã hội; hai là chăm lo xây dựng xã hội trung thực, trong đó có cán bộ, đảng viên.

Để làm tốt chiều thứ nhất, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học đi đôi với làm theo”.

Vừa qua, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì nghiên cứu xây dựng “chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Đây là việc làm cần thiết, qua đó tạo thêm tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa hằng ngày; để ai cũng thực hành và coi "danh dự là điều thiêng liêng nhất".

Giải pháp quan trọng nữa là phải tiếp tục siết chặt kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm trong hệ thống chính trị, nhất là trong giải quyết công việc của dân, doanh nghiệp; khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm. Các cấp, ngành cần hoàn thiện hệ thống quy chế làm việc, quy trình nội bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, đảng viên; kịp thời phát hiện vi phạm; thưởng phạt phân minh, có lý, có tình, bảo đảm kỷ luật không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đi đôi với khen thưởng kịp thời, xứng đáng... Một giải pháp quan trọng không kém là phải sớm thực hiện cải cách tiền lương, nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức...

Để làm tốt chiều thứ hai, điều quan trọng là phải tập trung đổi mới công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ, đặt giáo dục phẩm chất trung thực là ưu tiên hàng đầu; xây dựng triết lý giáo dục xoay quanh phẩm chất cốt lõi này. Muốn giáo dục phẩm chất trung thực để hình thành một thế hệ trung thực, một xã hội trung thực, một đất nước trung thực cần huy động được sự chung sức, đồng lòng, cùng nhau gánh vác của gia đình, nhà trường và xã hội. Quá trình này phải thực hiện từng bước chắc chắn, cùng với vai trò quyết định của nhà trường, phải lấy gia đình làm hạt nhân, lấy cộng đồng làm nơi nuôi dưỡng.

Lựa chọn làm một cán bộ, đảng viên trung thực đòi hỏi bản lĩnh, lòng dũng cảm, đức hy sinh. Sống trung thực chịu nhiều khó khăn, nhưng đổi lại, làm người trung thực có những giá trị quý báu không mua được bằng tiền. Bởi có câu: Trung thực là chương đầu tiên trong cuốn sách về sự khôn ngoan. Còn người xưa nói: Những người tính nết thật thà/Đi đâu cũng được người ta tin dùng.

 

 

HỌC VIÊN HỆ 5 TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XHCN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Là những công dân thời kỳ đất nước đang có những chuyển mình mạnh mẽ trong chuyển đổi số, xây dựng kinh tế số, quốc gia số. Những Học viên của Hệ Đào tạo sau đại học (Hệ 5), Học viện Chính trị cũng không đứng ngoài xu thế ấy. Trong thực tiễn học tập và tu dưỡng ở Học viện Chính trị, được Thủ trưởng Học viện, thủ trưởng các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên và  lãnh đạo, chỉ huy  Hệ 5 và những cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ giỏi về lý luận chính trị, công nghệ thông tin thông tin định hướng, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng, tổ chức hoạt động thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên Không gian mạng, những học viên Hệ 5 đã đúc rút được những kinh nghiệm bổ ích rất cần thiết cần được chia sẻ, lan tỏa nhằm không ngừng phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, giữ vững định hướng cách mạng, nâng cao chất lượng hoạt động rất quan trọng này như sau:

Một là: Thực hiện phương châm "lấy đẹp, dẹp xấu". 

Hai là: Chú ý "những điều nên tránh": Quá tả hoặc quá hữu trước một vấn đề, sự kiện. Hùa theo số đông trước một vấn đề chưa tỏ tường về pháp lý, đạo đức và bảo mật. Đưa thông tin bí mật đời tư, tạo sơ hở cho kẻ xấu, kẻ ác lợi dụng khai thác, đào xới. Vô tình làm người tuyên truyền, tán phát không công cho cái xấu, cái ác, phản động, lạc hậu, lệch chuẩn. Để nhiễm độc tiêu cực khi tiếp xúc thông tin nhiều chiều, trong đó phải rất cảnh giác về thông tin trái chiều từ phía các thế lực thù địch, Phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn về chính trị.

Ba là: Ghi nhớ và vận dụng khéo 07 chữ "Vững- Thực- Tiên- Sáng- Hợp- Xây-Công" trong tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trên Không gian mạng.

Vững" là vững vàng, dựa trên nền tảng hiểu biết, trình độ, bản lĩnh, thái độ, trách nhiệm, niềm tin, ý chí, khả năng của một người và tập thể, cộng đồng... Biểu hiện của vững là không hoang mang, lo lắng, sợ hãi trước mọi tình huống thành, bại, được, mất, hơn, thua… Vững sẽ không bị hiện tượng đánh lừa bản chất, do biết xem xét cẩn trọng, thấu đáo rồi mới cân nhắc đưa ra thái độ, chính kiến và hành động cần thiết tương ứng. Người không vững dễ bị lừa dối, dẫn dụ, lôi kéo, kích động đưa đến bộc lộ xúc cảm, lời nói, hành vi tiêu cực, sai lầm, dễ bị chi phối bởi trào lưu, bị cuốn theo tâm lý hiệu ứng đám đông... vô tình thúc đẩy đạt đến mục đích ý đồ xấu cho kẻ chủ mưu, giật dây đứng đằng sau hoặc trong bóng tối...

Thực tình hình thực tiễn của vấn đề, sự kiện mà đang rất được quan tâm. Là cơ sở xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển về một vấn đề, sự kiện hay đối tượng nào đó. Là cơ sở đối chứng, kiểm nghiệm mọi thông tin hay dư luận nào đó có đáng tin không. Đây là "khắc tinh" của nạn tin giả, xuyên tạc, bóp méo sự thật…

Tiên là phải đi trước, đón đầu, bằng việc từ trong thực tiễn, ta xác định được đối tượng, vấn đề nào đáng quan tâm, xem xét và chủ động dự báo, lượng đón chiều hướng tích cực, tiêu cực chủ động chuẩn bị nội dung, biện pháp, phương án giải quyết tối ưu, hiệu quả nhất. 

Sáng là sáng tạo trong hình thức, nội dung bày tỏ nhận thức, sự quan tâm, tình cảm, thái độ, trách nhiệm trên Không gian mạng một cách tốt hơn, hay hơn, đẹp hơn, mạnh mẽ hơn, linh hoạt hơn, sâu sắc hơn, hiệu quả hơn. Chính sáng tạo sẽ liên tục tạo nên những giá trị mới cho mình và cộng đồng, khẳng định được dấu ấn, bản sắc, tạo nên giá trị riêng của cá nhân, tập thể, cộng đồng, tạo nên làn gió tươi mới, mát lành”, tránh đơn điệu, nhàm chán. Từ đó thu hút, hấp dẫn, lan tỏa, định hướng mọi người tương tác tích cực.

Hợp" là phát huy sức mạnh, lực lượng tổng hợp về con người, tổ chức, trang bị, phương tiện, tài chính, thời gian…ưu tiên cho họat động xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trên Không gian mạng. Hợp cũng là sự đòi hỏi thực tiễn hoạt động phải phù hợp yêu cầu khách quan, điều kiện hoàn cảnh, tình huống, đặc điểm đối tượng mà ta cần tập trung tác động trên Không gian mạng. Hợp không nằm ngoài việc phải nghiêm chỉnh quán triệt đầy đủ, tuân thủ đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật, đạo đức, quy tắc xã hội... đặc biệt là pháp luật về an ninh, an toàn thông tin và an ninh mạng hiện hành.

Xây Là mục đích trung tâm mà toàn bộ hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trên Không gian mạng cần hướng tới. Nội dung xây dựng toàn diện song phải có trọng tâm, trọng điểm. Mấu chốt nhất cần đạt được là xây ý thức tốt, tạo nên sức tự đề kháng, tự miễn dịch cho đối tượng được tiếp cận thông tin định hướng của ta trước những làn gió độc, nhiều chiều”....

Công Công là tiến công, đây là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt quá trình tham gia xây dựng môi trường Không gian mạng tốt đẹp, lành mạnh, tiến công trực diện đập tan mọi hành vi gieo rắc những sản phẩm, nội dung phản giá trị xấu độc, tiêu cực, lệch chuẩn, phá hoại, thù địch, phản động, cơ hội, xét lại, bất mãn về chính trị...Công được đặt cuối cùng nhưng hiệu quả của công sẽ là sự phản ánh hiệu quả, kết quả của toàn bộ những quá trình trước đó.

Với những dòng chia sẻ còn vụng về, song với ý thức trách nhiệm công dân, quân nhân thời kỳ cả nước đang ra sức chuyển đổi số, được tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trên Không gian mạng với mục đích mang lại những điều thực sự tốt đẹp, lành mạnh, kiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để làm điều xấu, điều ác, lệch chuẩn, trái đạo đức... Chúng ta hãy cùng nhau góp ý, để hoàn thiện hơn cho nội dung quan trọng, thiết thực trên và biết vận dụng thực hiện hiệu quả vào nhiệm vụ rất quan trọng này hiện nay.

 

KHÔNG THỂ XEM NHẸ THỦ ĐOẠN

“RU NGỦ TINH THẦN CẢNH GIÁC” CỦA CÁC THẾ LỰC CHỐNG PHÁ

 

Mơ hồ, mất cảnh giác tất yếu sẽ thất bại trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Trò “ru ngủ tinh thần cảnh giác” của các thế lực thù địch là thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc, chúng ta không thể xem nhẹ, phải luôn nêu cao cảnh giác, nhận diện đúng và kiên quyết, kiên trì đấu tranh để giành thắng lợi trong cuộc chiến không tiếng súng đầy cam go này.

Để “ru ngủ tinh thần cảnh giác”, các thế lực chống phá xác định đánh vào lòng người là mục tiêu chủ yếu trong các thủ đoạn, chiêu trò của chúng. Thực hiện mục tiêu đó, họ sử dụng các cách thức tác động tâm lý xã hội, đánh vào tâm lý, tinh thần bằng những thủ đoạn tinh vi làm chuyển hóa đối phương ở mọi lúc, mọi nơi, len lỏi vào từng người, từng nhóm để “lung lạc” nhận thức tư tưởng, “gặm nhấm” tình cảm, điều khiển ý chí và hành động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ đối phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Để phục vụ cho mưu đồ đẩy mạnh các hoạt động chống đối tại chỗ, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài, các thế lực thù địch ra sức xây dựng lực lượng chống đối trong nước thông qua việc thành lập các hội, đoàn, nhóm lấy danh nghĩa là đại diện cho các nhóm xã hội khác nhau, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”,... thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự”, tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam một cách công khai, hợp pháp, tiến dần tới các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Chúng bỏ “bùa mê” quần chúng bằng nhiều thủ đoạn. Một mặt, chúng núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”,... để hòng lũng đoạn chính sách; mặt khác, họ ra sức tập hợp quần chúng, kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn để tạo cớ can thiệp từ bên ngoài. Để lôi kéo nhiều người tin theo, họ sử dụng khá hiệu quả các chiêu trò mị dân, lừa gạt, nhân danh đại diện lợi ích của các nhóm xã hội, triệt để lợi dụng sự thiếu hiểu biết, nhẹ dạ của người dân và có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam, như: RSF (Phóng viên không biên giới), AI (Ân xá quốc tế), v.v. Nhiều người đã nhẹ dạ, cả tin theo chúng và chỉ khi đã vướng vào vòng lao lý mới thực sự nhận rõ bộ mặt “rắn độc” của chúng. Lẽ dĩ nhiên, hậu quả của việc mất cảnh giác trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” không chỉ dừng lại ở việc trả giá của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội mà liên quan đến sự tồn vong của chế độ, quốc gia, dân tộc.

Có nhiều việc phải làm để khắc phục tình trạng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Nhưng trước hết, phải bắt đầu từ việc tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong uốn nắn những lệch lạc, đấu tranh ngăn chặn kịp thời những biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác ngay từ cơ sở. Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tình hình nhiệm vụ, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động; thấy rõ sự nguy hiểm, khôn lường của tình trạng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay. Qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên và nhân dân đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngay trên lĩnh vực, ngành mình công tác, trong mỗi tổ chức mà mình là thành viên.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG

TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, nhận thức mới, tư duy mới về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc của Việt Nam luôn được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước. Việc giải quyết tốt vấn đề dân tộc để phát huy vai trò của các dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của đất nước và vì lợi ích của từng dân tộc luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chính vì vậy từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thể hiện trong hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.

Thứ nhất, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đảng ta xác định, vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta"... Việc xác định vị trí chiến lược lâu dài của công tác dân tộc chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng dân tộc ở nước ta. Bởi vì, vấn đề dân tộc vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong điều kiện của một quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa như ở Việt Nam. Đó là một đặc điểm lớn, là đặc trưng, diện mạo lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh nguyên tắc “Đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc’’, Văn kiện Đại hội VI đến lần thứ XI, nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định và bổ sung là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI, VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X), “Bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” (Đại hội XI), “Bình đẳng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát  triển” (Đại hội XII). Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của chính sách đoàn kết các dân tộc trên cơ sở “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”.

          Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Đó là cơ sở để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, là động lực mạnh mẽ của tiến trình phát triển đất nước hiện nay.

          Thứ hai, bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Điều 5 Hiến pháp xác định "các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc", "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước". Theo đó, bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện trước hết ở sự bảo đảm và tạo mọi điều kiện để các dân tộc có cơ hội phát triển ngang nhau. Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để bảo đảm công bằng xã hội giữa các dân tộc, đây là một một quá trình lâu dài. Công bằng xã hội không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình.

          Thứ ba, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Tư duy mới, vấn đề dân tộc được đặt trong xây dựng quan hệ giữa các dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc; chính sách dân tộc được gắn với đường lối chính trị, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Điều này thể hiện rõ mục tiêu trong chính sách dân tộc của Đảng ta là không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của từng dân tộc; làm cho mỗi dân tộc được phát triển một cách toàn diện và bền vững; đồng thời, qua đó, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

          Thứ tư, đặc điểm, điều kiện của từng vùng, từng dân tộc. Đảng ta đặc biệt chú trọng và cụ thể hơn vấn đề dân tộc, nhấn mạnh, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với đặc điểm riêng của từng dân tộc và điều kiện, đặc điểm của từng vùng: “Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.”. xuất phát từ tình hình thực tế của đồng bào dân tộc Việt Nam cư trú xen kẽ nhau. Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Vấn đề này luôn được Đảng ta quan tâm. Trên cơ sở đánh giá toàn diện về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, từ thực tế vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở nước ta. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế trong thực hiện chính sách về dân tộc. Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”. Việc áp dụng các chính sách cụ thể cho từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự đổi mới trong nhận thức của Đảng về sự công bằng trong phát triển giữa các dân tộc và các vùng, miền nói chung. Từ các tiêu chí phân chia vùng, miền (khu vực bước đầu phát triển, khu vực ổn định và khu vực khó khăn), Nhà nước đã có những chính sách đầu tư thích hợp cho mỗi nhóm đối tượng, theo đó, những khu vực khó khăn hơn sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt về quy mô đầu tư, để giúp cho những khu vực này nhanh chóng theo kịp trình độ phát triển chung của cả nước.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng triệt để vấn đề dân tộc, nhất là lợi dụng sự khác biệt của các dân tộc để chia rẽ, phá hoại, làm suy yếu các dân tộc và các lực lượng cách mạng, từng bước thực hiện âm mưu đen tối của chúng là nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, và buộc tất cả các dân tộc trên thế giới phải đi vào quỹ đạo, hoặc lệ thuộc vào chúng. Vì vậy, việc bảo vệ các dân tộc khỏi sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc là một nhiệm vụ cấp bách của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trước nguy cơ “diễn biến hoà bình” trước việc một số thế lực lợi dụng vai trò giúp đỡ, viện trợ, đặt  cao hơn chủ quyền để can thiệp vào công cuộc nội bộ của các nước, hiên nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần quán triệt lời dạy của Hồ Chí Minh: Mỗi một người phải nhớ rằng có độc lập mới tự lập, có tự cường mới tự do. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác". Để đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm rõ tính đúng đắn của chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với chính sách dân tộc ở nước ta.

Để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách dân tộc của Đảng để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản giải quyết vấn đề dân tộc trong thời kỳ đầu đổi mới, cụ thể như sau:

 Một là, Nhân dân cả nước cùng đồng bào các dân tộc kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội  mà Bác Hồ, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn

Ngay từ buổi đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ và Đảng ta đã xác định mục tiêu cách mạng Việt Nam không chỉ dừng lại ở giải phóng các dân tộc thoát khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến mà mục tiêu cao hơn là đưa các dân tộc Việt Nam đi lên CNXH, vượt qua nghèo nàn lạc hậu xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Thực tiễn cách mạng thế giới đã chứng minh chỉ có cách mạng XHCN mới có khả năng giải quyết tận gốc áp bức dân tộc, xác lập mối quan hệ giữa các dân tộc thực sự bình đẳng, đoàn kết giúp nhau xây dựng cuộc sống mới. Vận mệnh và tương lai của các dân tộc gắn liền với vận mệnh và tương lai của đất nước, cùng chung một Đảng lãnh đạo, một con đường đi lên CNXH.

Trong công cuộc xây dựng đất nước các dân tộc muốn tồn tại và phát triển, phải đi lên CNXH “ Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”. Việc giải quyết VĐDT được đảm bảo trong xây dựng nhà nước Việt Nam XHCN chung của mọi thành phần dân tộc, điều đó được thể hiện trong Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992: “Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” nhà nước phải bảo đảm “ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Trong bối cảnh quốc tế trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định con đường đi lên CNXH là hết sức đúng đắn, thể hiện quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và toàn dân ta đã lựa chọn          Hai là, cách mạng XHCN ở vùng dân tộc là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước hết là sự nghiệp cách mạng của đồng bào các dân tộc và người Kinh ở miền núi

Cách mạng XHCN ở miền núi và dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng XHCN ở nước ta là một bộ phận khăng khít của cách mạng XHCN ở nước ta, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích trực tiếp của đồng bào miền núi, vì lợi ích chung của Nhân dân cả nước.

Đảng ta chủ trương giải quyết VĐDT trên cơ sở sự đoàn kết, thống nhất, đảm bảo lợi ích của các dân tộc và phát huy vai trò trách nhiệm của các dân tộc trong tiến hành cách mạng XHCN trên vùng dân tộc, miền núi, thực hiện thắng lợi mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong đó phải đặc biệt coi trọng vai trò năng động, sáng tạo của các địa phương và cơ sở, quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc.

Để phát huy thế mạnh của từng vùng, ở mỗi dân tộc, Đảng ta yêu cầu phải nắm vững phương châm: Trung ương và địa phương cùng làm. Nhà nước và Nhân dân cùng làm, khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương, cục bộ dân tộc, ỷ lại trên, coi nhẹ khả năng của đồng bào các dân tộc; phải kiên quyết chống tư tưởng chỉ khai thác tài nguyên, coi nhẹ đầu tư tái tạo, bồi đắp và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn tới cạn kiệt, môi trường bị tàn phá gây hậu quả lâu dài cho miền núi và cả nước. Trong công cuộc đổi mới giải quyết tốt VĐDT nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc cách mạng XHCN ở miền núi, trực tiếp phục vụ lợi ích của các dân tộc, gắn liền lợi ích của mỗi dân tộc với lợi ích của cả nước, đưa đồng bào các dân tộc tiến tới cuộc sống ấm no, văn minh, tiến bộ.

Ba là, quan điểm cơ bản trong giải quyết VĐDT là đảm bảo cho miền núi, dân tộc phát triển một cách toàn diện cả về chính trị, kinh tế văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng, nâng cao cuộc sống vật chất tinh thần của các dân tộc, giải quyết hài hòa lợi ích các dân tộc, giữa dân tộc với quốc gia

Quan điểm nhất quán của Đảng ta là phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết giữa các dân tộc, tạo cơ sở phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng XHCN trên phạm vi cả nước. Đảng ta chỉ rõ, nền tảng vững chắc của đoàn kết dân tộc là thực hiện trên thực tế nguyên tắc bình đẳng dân tộc, các dân tộc tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Về mọi mặt, trước hết là giúp nhau thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế “ Để thực hiện trên thực tế quyền bình đẳng giữa các dân tộc, một mặt pháp luật phải bảo đảm quyền bình đẳng đó, mặt khác phải có chính sách và tạo điều kiện để Nhân dân các dân tộc miền núi vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh tế - văn hóa, từng bước nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, coi trọng và đào tạo cán bộ người dân tộc, tôn trọng và phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc”.

Cùng với công cuộc đổi mới XHCN trên phạm vi cả nước, đối với miền núi và dân tộc Đảng ta chủ trương phát triển nhanh kinh tế - xã hội miền núi, phát triển kinh tế hàng hóa, thu hẹp tự cung tự cấp. Phát triển miền núi toàn diện Đảng ta luôn chăm lo bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào dân tộc và năng lực sáng tạo của các địa phương, vấn đề then chốt và lâu dài là đặc biệt coi trọng xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng giai đoạn mới. Có quan điểm đúng, có đội ngũ cán bộ vững vàng, có chính sách phù hợp với tình hình các dân tộc, công cuộc xây dựng CNXH của Nhân dân cả nước ta trên địa bàn miền núi, dân tộc giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới đã thu được những thành công quan trọng góp phần đảm bảo cho đồng bào các dân tộc nhất là các dân tộc miền núi có cuộc sống ấm no văn minh tiến bộ.

Bốn là, nắm vững chủ trương phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đi lên CNXH, điều chỉnh lại quan hệ sản xuất ở miền núi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân, tôn trọng đặc điểm kinh tế xã hội và đặc điểm tự nhiên của các dân tộc trong quá trình thực hiện chính sách chung

Đảng ta yêu cầu toàn thể Cán bộ, Đảng viên phải nắm vững các quy luật cách mạng XHCN, vận dụng sáng tạo vào cuộc cách mạng nước ta. Đối với các dân tộc, trên cơ sở các quy luật cơ bản của cách mạng XHCN, phải xuất phát từ đặc điểm, trình độ kinh tế - văn hóa, cấu trúc xã hội, tâm lý và nếp sống, phong tục và tôn giáo để vận dụng cho phù hợp với lực lượng sản xuất của các dân tộc. Các dân tộc nước ta bước vào xây dựng CNXH, bên cạnh một bộ phận đã ở trình độ cao tương đương người Kinh ( Thái, Mường, Tày, Nùng, Khơ-Me, Hoa…) vẫn còn một bộ phận dân tộc đang ở trình độ thấp, thậm chí có dân tộc mới bước vào ngưỡng cửa của sự phân hóa giai cấp. Trong thời kỳ đầu xây dựng CNXH quan hệ sản xuất mới được xác lập thì tàn dư của xã hội cũ vẫn chưa cải tạo xong, trong xây dựng cuộc sống mới còn biểu hiện tư tưởng rập khuôn áp đặt, không phù hợp với trình độ của một bộ phận các dân tộc.

Nhận thức đầy đủ về quan điểm đổi mới của Đảng về VĐDT trong thời kỳ đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, quán triệt, tôn trọng quy luật phát triển riêng của mỗi dân tộc, gắn quy luật đặc thù với quy luật chung của cả nước, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với đặc thù của lực lượng sản xuất, có khả năng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Các dân tộc không còn sự chênh lệch về trình độ phát triển thì quy luật đặc thù và quy luật chung sẽ hòa nhập và cả nước đi lên CNXH theo một quy luật thống nhất. Đây là điều mà hiện nay chúng ta vẫn đang phấn đấu thực hiện, vươn tới mục tiêu đó, bên cạnh sự chủ động, tích cực sáng tạo của mỗi dân tộc, phải có sự giúp đỡ tương trợ của các dân tộc đã đạt trình độ phát triển cao hơn theo tinh thần bình đẳng cùng tiến bộ.

Trên cơ sở những chủ trương lớn ở trên Đảng ta đã đề ra các chính sách trong giải quyết VĐDT trong đó tập trung vào đổi mới chính sách kinh tế xã hội trên địa bàn miền núi dân tộc; phát triển giáo dục, y tế và đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng XHCN trên địa bàn miền núi dân tộc.

Với những quan điểm chủ trương đúng đắn về VĐDT và giải quyết VĐDT của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra động lực to lớn, có tính bước ngoặt tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để giải quyết VĐDT một cách đúng đắn, phát huy được truyền thống và cốt cách của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam gắn lợi ích dân tộc với lợi ích của quốc gia, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tạo ra sự đoàn kết thống nhất cao trong khối ĐĐK toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa GCCN, NDLD và đội ngũ trí thức do ĐCSVN lãnh đạo, tạo động lực cho sự nghiệp đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay./.

 CƠ SỞ LÝ LUẬN


VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-

NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh

phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị

quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng,

Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới,

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi

ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát

triển đất nước”.

Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh

đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân,

toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công

việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ,

đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Do đó, cần nhận diện rõ nền

tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền

tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt

đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy

luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra

Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với

nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng

Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng

thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;

đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động

và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập

trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.

Cùng với đó, cần phải nhận diện chính xác những nhóm đối

tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó

là.


Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô

sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến

sẽ quyết liệt chống lại chúng ta.

Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ

XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước

của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu

rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng

dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển

hóa, tự diễn biến” trong nội bộ.

Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ

nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài,

nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch bao gồm cả những người

nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu

tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư

bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có

tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị

thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau.

Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp

với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ

chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên

(trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ

thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất

khó đấu tranh. Đây là những người phản bội lại lý tưởng cộng sản và

nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn,

không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của

những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

Hãy cảnh giác với chiêu trò lợi dụng của Việt Tân

 

Thời gian qua trên trang mạng facebook tổ chức khủng bố “Việt Tân” liên tục kêu gọi các tầng lớp nhân dân ký “thỉnh nguyện thư” đòi lại chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Vậy bản chất hoạt động này là gì?

          Thỉnh nguyện thư là một văn bản chứa đựng nội dung bày tỏ nguyện vọng với người trên hoặc cấp có thẩm quyền. Nói cách khác, thỉnh nguyện thư có nội dung phản ánh nguyện vọng và đòi hỏi của nhân dân đối với cấp trên, nhà quản lý được thực hiện bởi một hay nhiều cá nhân hoặc tổ chức nào đó trong một quốc gia. Vì cá nhân hay tổ chức ở quốc gia này không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia khác có chủ quyền, do đó, không ai được phép gửi cái gọi là thỉnh nguyện thư của mình đến một quốc gia khác.

          Vì thiếu hiểu biết hay cố tình làm bậy mà tổ chức khủng bố “Việt Tân” vận động thỉnh nguyện thư yêu cầu nhân dân cả nước đòi lại chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Thực chất cái gọi là “thỉnh nguyện thư” hay “thư ngỏ” hoặc “tâm thư” của Việt Tân từ trước tới nay chỉ là những trò bịp bợm. Bằng chứng là chúng luôn kêu la: Việt Nam bán biển đảo cho Trung Quốc; lãnh đạo Đảng, Nhà nước không có trách nhiệm về vấn đề chủ quyền dân tộc. Nguy hiểm hơn chúng lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.

          Lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” chúng kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia, liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Lợi dụng vấn đề để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Tổ chức khủng bố Việt Tân muốn lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để chống phá nhà nước, lợi dụng quyền tự do của con người để kêu gào, kích động người dân tham gia để chúng đạt được mục đích lật đổ nhà nước hiện hành. Chúng làm cái điều gọi là “thỉnh nguyện thư” để được sự giúp đỡ về tiền bạc, thậm chí làm để “ghi danh hoạt động” của tổ chức.

          Tất cả các hoạt động trên đều nằm dưới sự tài trợ, chỉ đạo của các thế lực thù địch ráo riết triển khai hoạt động chống phá, âm mưu chuyển hóa chế độ chính trị nước ta thông qua nhiều phương thức thủ đoạn khác nhau, trong đó có chiêu trò “thỉnh nguyện thư”. Cách thức ký tên vào "thỉnh nguyện thư" cũng chứa nhiều yếu tố không minh bạch, dễ dàng mạo danh. Người tham gia chỉ cung cấp email, họ tên, sau đó bấm xác nhận là xong phần ký. Trang web sẽ tự động gửi vào email, người tham gia mở email và bấm xác nhận là xong. Với phương thức này, một người có thể tự lập hàng chục, thậm chí hàng trăm email ảo để tham gia ký “thỉnh nguyện thư”. Mặt khác, danh sách những người ký tên không hiện trên trang web, người ký tên không biết mình ký có đúng mục đích của bản thân không. Vấn đề này có thể bị lợi dụng để sử dụng vào mục đích khác như: Đăng tải trên các trang mạng phản động khác, bán thông tin cá nhân của người dùng cho các hoạt động tội phạm.

          Ngoài ra thông qua địa chỉ email của người ký tên, chúng có thể gửi các tin nhắn dụ dỗ, mua chuộc, móc nối lừa bịp, không đạt được mục đích thì đe dọa để tham gia chống phá Nhà nước Việt Nam. Đến ngày 22/12/2023 trên trang web Vietnameseparacels đã có 14.801 người tham gia ký tên trực tuyến “bản kiến nghị”; trong đó đa phần sử dụng thông tin “ảo” lấy danh nghĩa người Việt Nam, nhưng có địa chỉ ở nước ngoài.

          Việc tài trợ, ủng hộ, tham gia tổ chức khủng bố là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng; vì vậy, mỗi người dân cần tỉnh táo nhìn nhận thấu đáo bản chất các chiêu trò ma mảnh của chúng và thể hiện tình yêu quê hương, đất nước một cách đúng đắn.

Thanh niên quân đội đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Hiện nay, với sự phát triển của không gian mạng đã mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Bên cạnh những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Các thế lực thù địch đã lợi dụng vào sự phát triển của không gian mạng với nhiều thủ đoạn, vừa công khai trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa dân tộc. Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt tử nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Những quan điểm đó thường có các biểu hiện như: nhận thức, quan niệm, cách nghĩ chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa toàn diện về các nguyên lý, lý luận cách mạng, các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là phủ nhận các thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được, tô đậm yếu kém, khuyết điểm.

Phát huy vai trò xung kích của Thanh niên quân đội trong đấu tranh phản bác các các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao hơn nữa, cần triển khai đồng bộ một số biện pháp, cụ thể:

Một là. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, cơ quan chức năng đối với Thanh niên quân đội trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Cấp ủy đảng các cấp phải có nhận thức thống nhất, đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò của Đoàn thanh niên; ý nghĩa, tầm quan trọng của Đoàn thanh niên trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đoàn viên, thanh niên trong các cơ quan, đơn vị trong hệ thống phải nhận thức rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng; phải tự hoàn thiện nâng cao trình độ kiến thức, năng lực, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, phương pháp, tác phong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách; phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng tổ chức, con người trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Khắc phục tình trạng trung bình chủ nghĩa, ngại học tập, rèn luyện, ỷ lại vào tổ chức hoặc chấp hành không nghiêm sự lãnh, chỉ đạo của cấp uỷ đảng; hướng dẫn của cơ quan, cán bộ chủ trì các cấp, nhất là cấp trên trực tiếp trong đấu tranh trên không gian mạng.

Hai là, Phát huy tính tích cực, chủ động của Thanh niên quân đội trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Thanh niên quân đội cần chủ động học tập, nghiên cứu; tổ chức các lớp bồi dưỡng lý luận cách mạng, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương của đoàn viên thanh niên, nhất là quy định phát ngôn, ứng xử trên mạng xã hội. Tích cực bồi dưỡng các kiến thức nền tảng, thường xuyên mở các lớp tập huấn để cập nhật kịp thời kỹ năng sử dụng Internet cho Đoàn thanh niên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch đặc biệt là trên không gian mạng. Cùng với việc nâng cao hiểu biết của bản thân, mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải tự hình thành thói quen cập nhật có hệ thống, khoa học các thông tin trên các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội từ các phương tiện truyền thông uy tín với tư cách là cơ quan phát ngôn của Đảng, Nhà nước.

Ba là, Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường cơ sở vật chất; xây dựng cơ chế bảo vệ Đoàn thanh niên trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Cấp uỷ đảng các cấp phải tăng cường công tác quản lý nội bộ, nắm chắc chất lượng, quản lý chặt chẽ mọi mặt của từng cán bộ, đảng viên, người lao động trong đó có lực lượng đoàn viên, thanh niên; chủ động làm tốt công tác dự báo và kịp thời xử lý tư tưởng phát sinh trong đơn vị quản lý; tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi vi phạm quy định bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật ngân hàng nơi công tác trên không gian mạng; đồng thời làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh hoạt động tấn công, đánh cắp thông tin trên không gian mạng, không để đối tượng xấu có cơ hội hoạt động gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Rà soát nắm chắc tình hình quản lý, sử dụng thiết bị công nghệ thông tin tại cơ quan trong toàn hệ thống; đề ra các biện pháp để chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác bảo mật thông tin; sử dụng thiết bị công nghệ thông tin có hiệu quả. Thực hiện nghiêm quy định, quy trình viết bài, đặc biệt là khâu kiểm duyệt bài trước khi đăng tải trên trang mạng.