Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội

 

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

 

Trên thực tế, các nước phương Tây đã thực hiện thành công “Diễn biến hòa bình” với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của mạng xã hội tại nhiều nước Đông Âu, Bắc Phi như: Gruzia (2003), Ukraine (2012) và Tunisia, Libya, Ai Cập trong phong trào “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011. Trong các cuộc bạo loạn lật đổ ở các nước này, mạng xã hội đã trở thành vũ khí tối ưu khi nhanh chóng liên kết các nhóm chống đối, các phong trào hoạt động ngầm không có thủ lĩnh công khai, tránh được sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền. Chính nhà xã hội học Thụy Sĩ Ô-li-vơ Gơ-lát-xi đã khẳng định “các mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc cách mạng này.

 

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

 

Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

 

Cùng với đó, các đơn vị trong quân đội đã luôn chủ động trong công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng trên địa bàn đóng quân  được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ địa bàn an toàn, đơn vị an toàn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đúng đắn tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; còn lơ là, thiếu sót trong công tác và sinh hoạt thường ngày dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, bội nhọ nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Còn có cán bộ thiếu tích cực nghiên cứu, tham gia đấu tranh kém hiệu quả, chưa phát huy hết trách nhiệm trong phát hiện, đấu tranh, phản bác những cái xấu, cái tiêu cực, những luận điệu sai trái, phản động; chưa có những bài viết, thông tin chuyên sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm thù địch, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng.

 

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính.  Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp như sau:

 

Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội; đồng thời, bám sát thực tiễn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

 

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước những sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng cho cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Qua đó, để cán bộ, chiến sĩ nắm chắc về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam và nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nêu cao tinh thần cảnh giác và ý thức tổ chức kỷ luật, “tự miễn dịch” trước hoạt động chống phá tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

 

Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; chủ động xây dựng, tổ chức lực lượng để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng có nền nếp, bảo đảm bí mật, rộng khắp, thống nhất, hiệu quả và bảo vệ mình. Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Các nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy, tổ chức đảng đều có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh trên không gian mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm tính nhạy bén, sáng tạo, nhưng phải chấp hành nghiêm quy định bảo vệ chính trị nội bộ, không để lọt, lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, ngăn chặn kịp thời các tài liệu phản động, văn hóa phẩm xấu độc thâm nhập vào nội bộ.

 

Thứ hai, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng.

Cấp ủy đảng các cấp phải xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, vận dụng phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị bằng kế hoạch, chương trình cụ thể. Cần linh hoạt, sắc sảo, sáng tạo, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội của quân nhân, kịp thời phát hiện những biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm.

 

Thứ ba, cần giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn vậy, trước hết các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, kịp thời định hướng một cách thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của bộ đội. Phải giáo dục cho quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

 

Thứ tư, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông báo thời sự và công tác tuyên truyền trong nhân dân. Với tỉ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội đông đảo như Việt Nam hiện nay, cùng với tình trạng nhiễu loạn thông tin trong thời gian qua, thực trạng “phản ứng chậm” với những thông tin sai trái, bịa đặt trên mạng xã hội của các cơ quan, đơn vị diễn ra còn phổ biến. Do đó, các cơ quan, đơn vị phải nhạy bén, thường xuyên, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống thông qua chế độ thông báo thời sự và các hình thức tuyên truyền trong nhân dân. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của cơ quan cấp trên, chủ động thông báo, thông tin chính thống trên các trang mạng xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn; duy trì hiệu quả chế độ đọc báo, nghe tin, giao ban, hội ý để cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp tuyên truyền, đấu tranh. Cần xác định rõ căn cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác đối với những thông tin sai trái; hướng dẫn cụ thể biện pháp, hình thức thông tin tuyên truyền trong nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ.

 

Thứ năm, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trên địa bàn xây dựng cơ chế và phát huy có hiệu quả các thiết chế để kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trong đó, cần chú trọng thiết lập các trang, nhóm cộng đồng trên nền tảng có sẵn như: Facebook, Zalo, Mocha... thu hút được đông đảo người dân tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật An ninh mạng và Nghị định số 15/2020/ND-CP ngày 3-2-2020 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cũng cần phải thống nhất nhận thức: không phải thông tin phản ánh tiêu cực nào cũng đều là thông tin sai trái, phản động, thù địch; cần có cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, từ đó tránh quy chụp, tạo hiềm khích, gây mất uy tín và chất lượng của các trang, nhóm, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền trên địa bàn.

 

Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

hê phán, bác bỏ luận điệu “Đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 

Công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn.

 

Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội.

 

Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý, chống đối tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái chúng ta đi theo con đường khác. Những luận điệu đen tối đó cho rằng đổi mới như vậy coi như đã xong, nay cần xem xét lại vì đã không còn động lực. Ý kiến khác đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi.

 

Những luận điệu xuyên tạc, đơm đặt như vậy đã bị phủ định hoàn toàn bởi những lý do then chốt sau đây:

 

Kiên định đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa

 

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn

 

Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

 

Thành tựu đổi mới là bằng chứng thực tiễn sinh động nhất

 

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

 

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

 

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

 

Tiếp tục phát huy mạnh mẽ động lực, nguồn lực của đổi mới

 

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

 

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

 

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

 

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

 

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

 

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

 

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

                                              

Nhận diện và đấu tranh làm thất bại những luận điệu xuyên tạc kết quả phòng, chống dịch Covid – 19 ở nước ta hiện nay

 

Trước tình hình dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, với những chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước, Chính phủ, chính quyền các địa phương, của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực, đoàn kết chung tay phòng, chống đại dịch của toàn dân đã giành được những kết quả bước đầu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo nhằm gây nhiễu loạn thông tin, phủ nhận kết quả phòng chống, dịch ở nước ta. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của đợt dịch bùng phát lần thứ tư, các đối tượng phản động đã tung ra những thông tin bịa đặt, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn nỗ lực phòng, chống Covid-19 tại nước ta. Phủ nhận mọi nỗ lực và thành quả chống dịch bằng các luận điệu như: “Đừng ngộ nhận về hình mẫu chống dịch Covid-19 của Việt Nam”; “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19”.

 

Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, phản bác làm thất bại những luận điệu sai trái trên bằng nhiều biện pháp như sau:

 

Một là, cung cấp thông tin đảm bảo “Kịp thời - Minh bạch - Chính xác và Tin cậy” bằng các lực lượng, phương tiện, sử dụng triệt để các hình thức tạo ra chiến dịch truyền thông để nhân dân nhận thấy quyết tâm “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh. Đưa thông tin chính thống, chính xác tạo một dòng chảy chủ đạo của truyền thông trong phòng chống đại dịch Covid-19 và tạo được niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các cấp, các ngành, các lực lượng. Đồng thời, khẳng định các giải pháp chống dịch của chúng ta đã và luôn được thế giới đánh giá cao, hiệu quả.

 

Hai là, tuyên truyền cho nhân dân nhận thức rõ những nỗ lực, thành tựu của đất nước trong phòng, chống đại dịch. Với quan điểm thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch hiệu quả vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân, Chính phủ đã chủ động bình ổn giá thị trường, ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, tự ý nâng giá bán nhu yếu phẩm. Quản lý chặt chẽ hoạt động xuất, nhập cảnh; siết chặt cách ly những người đi, về từ vùng dịch. Công tác tuyên truyền người dân nâng cao ý thức phòng ngừa dịch bệnh được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

 

Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh với luận điểm “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19” mà địch xuyên tạc làm cho nhân dân hiểu rõ: cùng với các biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn, kiểm soát, chúng ta cũng đã rất tích cực, khẩn trương, chủ động, tìm mọi cách để có thể nhanh chóng tiếp cận, tìm nguồn, nhập vaccine phòng Covid-19 và triển khai tiêm cho nhân dân, trước hết là lực lượng trên tuyến đầu chống dịch, các đối tượng ưu tiên. Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vaccine phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vaccine phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ. Đến nay Việt Nam đã đặt hàng 170 triệu liều vaccine phòng Covid-19 từ nhiều nguồn, nhiều nhà cung cấp trong năm 2021 để tiêm 2 mũi cho khoảng 70% số dân là những người đủ 18 tuổi trở lên. Đây cũng là tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 để đạt được miễn dịch cộng đồng. Vì thế, “Chiến lược 5K + Vaccine” và gần đây nhất Bộ Y tế vừa phát đi “Thông điệp 5T”, trở thành “pháo đài” mới trong giai đoạn chống dịch tiếp theo của Việt Nam là một chiến lược đúng đắn, hiệu quả và căn cơ để đẩy lùi đại dịch Covid-19, đưa mọi hoạt động kinh tế-xã hội trở lại trạng thái bình thường mới

 

Đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại, diễn biến phức tạp là cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tăng cường chống phá. Chính vì vậy, là công dân có trách nhiệm, chúng ta cần phải tỉnh táo, biết “gạn đục khơi trong”, luôn lạc quan, tin tưởng vào công tác phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các ngành, địa phương. Chỉ có đoàn kết, chung sức, đồng lòng, chúng ta mới vững vàng trước mọi khó khăn, sớm chiến thắng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19.

Luận điệu xuyên tạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Đảng cộng sản Việt Nam

 

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá của Đảng, từ ngày 4-7/10/2021, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ tư để thảo luận, quyết định nhiều vấn đề lớn của đất nước trong tình hình mới. Lợi dụng sự kiện chính trị quan trọng này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về Hội nghị.

 

Hội nghị lần thứ tư của Đảng đã được tổ chức để thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng như: Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022-2024; chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; sửa đổi, bổ sung quy định về những điều đảng viên không được làm...

 

Các nội dung, kết luận của Trung ương tại Hội nghị sẽ góp phần quan trọng đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, thúc đẩy việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.

 

Lợi dụng vào sự kiện, thời điểm và nội dung thảo luận, quyết nghị những vấn đề quan trọng của Hội nghị, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lập tức tăng cường tuyên truyền xuyên tạc chống phá trên nhiều phương diện, từ chế độ chính trị, công tác phòng, chống dịch bệnh, tình hình kinh tế-xã hội của đất nước nhằm hạ thấp vai trò, ý nghĩa của Hội nghị Trung ương 4. Chúng huy động các trung tâm truyền thông quốc tế như Đài VOA, RFA, RFI, các trang mạng của tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời… tập trung khai thác, chống phá ở nhiều góc độ khác nhau.

 

Những luận điệu mà các đối tượng tung ra xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Hội nghị có thể thấy rõ ở mấy điểm sau:

 

Một là, đằng sau những luận điệu sai trái, xuyên tạc mà các đối tượng xấu tập trung khai thác, lập luận, tuyên truyền, người ta thấy đó là quan điểm dân tuý, cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Với kiểu phê phán bằng mọi cách, cứ như thể chỉ họ mới là lực lượng, những người tiến bộ, dân chủ, quan tâm thực sự đến đời sống người dân, ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây.

 

Hai là, tung ra các luận điệu sai trái, suy diễn, xuyên tạc Hội nghị Trung ương 4 nhằm mục đích hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, cố tình dẫn dắt dư luận để gieo rắc nhận thức lệch lạc, hạ thấp vị trí, ý nghĩa của Hội nghị, uy tín, niềm tin của Đảng trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng vào tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp để quy chụp nói xấu, xuyên tạc bản chất chế độ xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 

Ba là, phê phán, phủ nhận thành quả công tác phòng, chống dịch bệnh của hệ thống chính trị của Việt Nam trong suốt thời gian qua. Lấy một số hiện tượng tiêu cực, một số khó khăn, hạn chế ở chỗ này, chỗ khác để quy kết bản chất, từ đó lên án chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phòng, chống dịch bệnh, an sinh xã hội, cách thức, phương pháp thực hiện của chính quyền địa phương.

 

Bốn là, làm méo mó hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam trong mắt bè bạn quốc tế, làm suy giảm uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Qua đó họ cố tình bóp méo tình hình Việt Nam, nhất là bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội, nghĩa cử đồng bào, sự đùm bọc, chia sẻ, đoàn kết, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công cuộc phòng, chống dịch bệnh với quyết tâm, nỗ lực ngăn chặn sự ảnh hưởng, hạn chế tác động thấp nhất mà đại dịch gây ra.

 

Trái ngược thủ đoạn, ý đồ mà các đối tượng rêu rao, Hội nghị Trung ương 4 của Đảng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đề để đưa ra quyết nghị đúng đắn. Trên cơ sở đó, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Nhất hô bá ứng”, “tiền hô hậu ủng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt” để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy tốt những thành tựu, kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và bình tĩnh, tỉnh táo xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề khó, chưa có tiền lệ, mới phát sinh trong phòng, chống dịch bệnh; hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp từng bước vượt qua khó khăn; duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và đời sống nhân dân.

Không thể xuyên tạc, hạ thấp vai trò, ý nghĩa của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng

 

Diễn ra trong các ngày từ ngày 4 đến 7-10-2021, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét nhiều vấn đề quan trọng, như: đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022 và kế hoạch tài chính - ngân sách Nhà nước 3 năm 2022 - 2024; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…

 

Những vấn đề lớn mà Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) thảo luận và quyết định đang được dư luận quan tâm và hưởng ứng bởi nó đúng và trúng với những yêu cầu mà tình hình thực tiễn đặt ra. Nhưng với các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, đây lại là cơ hội để chúng tung ra những luận điệu xuyên tạc, sai trái với mục đích xấu như bài viết “Hội nghị Trung ương 4: Điều duy nhất quan tâm là sự sống còn của đảng, của chế độ” được đăng tải trên đài VOA, RFA cùng một số trang mạng xã hội… Rõ ràng, bài viết là những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn, suy diễn rằng Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng vẫn “muôn năm trường trị”; những biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “âm mưu thanh trừng”, là cớ để “hạ bệ” lẫn nhau…

 

Trước tiên, chúng ta cần phải khẳng định rằng: Tổ chức Hội nghị Trung ương 4 là công việc nhằm thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa của Đảng. Không chỉ có ý nghĩa trong cả nhiệm kỳ khóa XIII, Hội nghị còn có tầm quan trọng trong bối cảnh phức tạp của dịch bệnh hiện nay. Là thách thức lớn của thế giới, đương nhiên dịch bệnh được Hội nghị Trung ương 4 bàn thảo kỹ lưỡng và đưa ra những quyết sách cụ thể. Không có việc Hội nghị Trung ương 4 “thờ ơ, phớt lờ với công tác phòng, chống dịch” như luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối đang rêu rao. Tại phiên bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Trong những tháng cuối năm 2021, cần phải khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án, kịch bản cụ thể, sát hợp hơn với thực tế tình hình hiện nay và có tính khả thi cao để tiếp tục tập trung ưu tiên phòng, chống dịch bệnh và khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của dịch bệnh…, tập trung ưu tiên triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ thiết thực, có hiệu quả cho nhân dân, người lao động và doanh nghiệp, nâng cao sức chống chịu, vượt qua khó khăn, thách thức, ổn định đời sống và phục hồi sản xuất kinh doanh…”.

 

Mặt khác, không hề có chuyện “âm mưu thanh trừng”, “hạ bệ” lẫn nhau như bịa đặt của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế, Hội nghị Trung ương 4 đã làm sâu đậm hơn dấu ấn trong Đảng và trong nhân dân gắn với việc từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, liên tiếp trong 3 khóa, tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng luôn chọn nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng để bàn và quyết định những định hướng chiến lược cho cả nhiệm kỳ. Đưa ra những quyết sách liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo về nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, tạo tiền đề quan trọng để Đảng ta tiếp tục ban hành các chủ trương, chính sách mới có liên quan, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đó là việc tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Đó là việc phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, “lợi ích nhóm”. Rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí…

 

Xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu Đảng và Nhà nước ta vốn là bản chất của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị. Vì thế, việc chúng lợi dụng Hội nghị Trung ương 4 để chống phá không có gì là bất ngờ. Vấn đề đặt ra là phải tổ chức thực hiện có kết quả các nghị quyết, kết luận tại Hội nghị Trung ương 4. Điều này vừa góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, hoàn thành nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của nhân dân, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, vừa là cơ sở để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị.

không thể phủ định, làm mờ sứ mệnh thiêng liêng của lực lượng vũ trang trong cuộc chiến chống covid-19

 

Khi nào và ở đâu xảy ra thảm họa do cháy rừng, bão lụt, tổn hại tính mạng, tài sản của nhân dân, lực lượng Quân đội, Công an cũng luôn đi đầu, là lực lượng nòng cốt, chủ công trực tiếp tham gia cứu hộ, cứu nạn không quản ngày đêm; bước chân của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang luôn có mặt ở những nơi hiểm nguy nhất, gian khó nhất. Chúng ta không thể quên những cán bộ, chiến sĩ đã dũng cảm, không quản khó khăn vất vả, kể cả hy sinh tính mạng trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại Thủy điện Rào Trăng 3 năm 2020, vụ sập hầm tại Thủy điện Đạ Dâng năm 2014.

 

Hiện nay, đại dịch COVID -19 đang lan rộng toàn cầu, mỗi ngày chúng lại cướp đi sinh mạng của hàng vạn người. Các hoạt động sản xuất, lưu thông bị đình đốn, ngưng trệ, hàng triệu người thất nghiệp, mất việc làm. Nhiều quốc gia phát triển, thuộc nhóm đầu của thế giới cũng gặp hàng loạt khó khăn, áp lực trong việc đối phó, giải quyết.

 

Quán triệt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương tại hội nghị thứ nhất Quân ủy Trung ương khóa XII “Trong nhiệm vụ phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa, phòng chống các thách thức an ninh phi truyền thống, Quân đội không quan niệm giúp dân, mà cần xác định đó là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đặc biệt trong thời bình”, lực lượng Quân đội đã sát cánh cùng lực lượng Công an chủ động dự báo từ sớm, từ xa làm tốt công tác tham mưu, chuẩn bị nhân lực, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng, chống dịch.

 

Không phải đến khi xuất hiện dịch bệnh ở phía Nam, lực lượng vũ trang mới được đưa vào cuộc mà ngay từ đầu năm 2020, khi dịch bệnh mới xuất hiện, lực lượng vũ trang đã sớm có những dự báo chính xác và chủ động tham gia một cách tích cực. Các lực lượng Công an, Quân đội đã tham gia khử khuẩn trên diện rộng ở những khu vực ô nhiễm; tổ chức đưa, đón người dân, xây dựng và điều hành các khu cách ly tập trung, tăng cường quản lý biên giới, đường biên trên bộ, trên biển và các cửa khẩu đường hàng không.

 

Lực lượng Quân y của bộ đội Biên phòng phối hợp thăm khám, điều trị cho nhân dân để phòng, chống dịch. Lực lượng Công an các cấp thường xuyên tuần tra, kiểm soát, đấu tranh với các hành vi vi phạm công tác phòng, chống dịch, trong đó, không ít đối tượng phạm tội dương tính với SARS-CoV-2, có hành vi chống đối lực lượng chức năng. Trong cuộc chiến đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã bị lây nhiễm với COVID-19, trong đó có cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương.

 

Lợi dụng không gian mạng, không ít đối tượng tung tin xuyên tạc nhằm gây hoang mang, bất an, rối loạn trong xã hội. Đây cũng là một loại virus độc hại, nguy hiểm ăn theo dịch bệnh mà cán bộ, chiến sĩ Công an đã, đang nỗ lực phát hiện, điều tra, xử lý. Với đội ngũ y, bác sĩ quân y, ngay từ khi phát hiện dịch trên thế giới, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ sở bắt tay vào nghiên cứu cho ra đời các bộ kit xét nghiệm; tham gia nghiên cứu chế tạo vaccine của người Việt Nam để chủ động bảo vệ tính mạng của nhân dân. Khoa Chống nhiễm khuẩn, Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an đã sáng chế áo chống sốc nhiệt đạt hiệu quả trong điều hòa nhiệt độ cơ thể, tránh tình trạng sốc nhiệt, góp phần bảo vệ sức khỏe cho cán bộ y tế trong công tác phòng chống dịch COVID-19.

 

Khi tình huống nguy cấp xảy ra tại các địa phương, nhất là TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, theo điều hành của Chính phủ và với tinh thần “phục vụ nhân dân là nhiệm vụ tối thượng”, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, trong đó có các y, bác sĩ Quân đội, Công an đã không quản hiểm nguy, gác lại cuộc sống riêng, tạm biệt người thân để lao vào vùng dịch, đem lại niềm tin vững chắc cho nhân dân. Những hình ảnh không thể cảm động hơn khi những chiến sĩ Quân đội, Công an không quản nắng mưa đem đến cho từng gia đình, từng người dân những chiếc khẩu trang, những hộp lương khô, thịt hộp do quân nhu sản xuất cùng lương thực, thực phẩm trong những ngày cách ly, tận tâm chăm sóc cho người bệnh tại các cách ly. Có gì thiêng liêng hơn khi lực lượng vũ trang lại tập trung lo hương khói cho những người không may tử vong do dịch bệnh, sau đó chu đáo đem tro cốt về bàn giao lại cho thân nhân từng gia đình.

 

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong đợt dịch lần thứ 4, đã có hơn 220.000 lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an và dân quân tự vệ được tăng cường hỗ trợ công tác phòng, chống dịch; nhiều cán bộ, chiến sĩ hơn 3 tháng qua không có thời gian nghỉ. Riêng lực lượng Công an từ đợt dịch thứ 4 đến nay đã huy động vào Nam hơn 100.000 lượt cán bộ, chiến sĩ. Mới đây, Bộ Công an cũng vừa điều hơn 5.000 cán bộ và hơn 2.000 học viên, hơn 600 cán bộ y tế của các bệnh viện ngành vào các tỉnh phía Nam hỗ trợ chống dịch.

 

Các lực lượng vũ trang đã duy trì hàng nghìn tổ chốt, trong đó có 1.900 tổ chốt kiểm soát ở tuyến biên giới để kiểm soát xuất nhập cảnh trái phép, hàng nghìn chốt trong nội địa để tổ chức tuần tra, kiểm soát, làm nhiệm vụ phục vụ việc cách ly tập trung ở các khu phong tỏa, góp phần thực hiện nghiêm giãn cách xã hội, hạn chế người ra đường làm lây lan dịch bệnh. Đã triển khai 190 khu cách ly tập trung, các đơn vị nhường doanh trại đảm bảo việc ăn ở cho 190.000 lượt người. Đã điều động hàng nghìn y bác sĩ, kỹ thuật viên và 600 tấn vật tư trang thiết bị y tế, thuốc men chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam…

 

Phát biểu nhân Ngày Truyền thống lực lượng CAND vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ những vất vả, hy sinh của lực lượng CAND trong nỗ lực giúp nhân dân phòng, chống COVID-19. Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: “Đó là những minh chứng hùng hồn nhất thể hiện bản chất tốt đẹp, cao quý của người Công an cách mạng “thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình”, thực sự xứng đáng là “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Đảng, Nhà nước trân trọng, chia sẻ, thấu hiểu, biểu dương và đánh giá rất cao những đóng góp, hy sinh, nỗ lực hết mình của các lực lượng tuyến đầu chống dịch, trong đó có các chiến sĩ CAND. Tôi thấu hiểu hơn và chia sẻ sâu sắc với cán bộ chiến sĩ toàn lực lượng, đặc biệt là những đồng chí đang trên tuyến đầu chống dịch, chống tội phạm. Các đồng chí xứng đáng được tôn vinh, ghi nhận, tạo điều kiện công tác bởi lao động nặng nhọc, độc hại, những cống hiến lặng thầm cho sự nghiệp phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự của đất nước”.

 

Chúng ta nhìn nhận một cách xuyên suốt, toàn diện như vậy để thấy rõ bản chất, sứ mệnh thiêng liêng của lực lượng vũ trang sát cánh cùng nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Ở đâu, lúc nào dân cần, dân khó thì đều có lực lượng vũ trang sát cánh, chung sức đồng lòng. Đó là sự thật khách quan nhằm phản bác các luận điệu sai trái trên không gian mạng hiện nay, các thế lực xấu cố tình xuyên tạc bản chất lực lượng vũ trang “không phải vì dân”, “bỏ mặc dân trong đại dịch COVID-19”./.

Đừng vì thần tượng mù quáng mà quên đi lịch sử của dân tộc

 

Lịch sử dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam được ghi dấu bằng lớp lớp những chiến công oanh liệt, hiển hách và những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng, phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc được viết tiếp bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược - đó là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

 

Những thắng lợi đó đã được lịch sử ghi nhận, khẳng định, nhưng với dã tâm thâm độc, lòng thù hận, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử; khoét sâu, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm, nhằm tuyên truyền sai lệch, làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ.

 

Mới đây trên các diễn đàn mạng xã hội của Trung Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới xuất hiện trarler bộ phim mang tên Vương Bài. Bộ phim trên đã quy tụ nhiều diễn viên nổi tiếng của Trung Quốc gồm các diễn viên nổi tiếng như Hoàng Cảnh Du hay đặc biệt là Tiêu Chiến. Ngay khi trarler được tung lên đã thu hút sự chú ý của người dân không chỉ của Trung Quốc mà nhiều quốc gia trên thế giới trong có có Việt Nam. Điều đặc biệt là sự chú ý chủ yếu đến từ giới trẻ. Theo thông tin giới thiệu thì bộ phim có mốc thời gian là năm 1983, các nhân vật trong phim tham gia chiến đấu và rà phá chất nổ được cho là tại Quảng Tây - một tỉnh giáp với Việt Nam chúng ta.

 

Nếu đối chiếu với lịch sử, không ít người dân Việt nhận ra rằng bộ phim có những chi tiết có liên quan đến cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam, bắt đầu từ năm 1979 đến đầu những năm 1990. Bởi trong bối cảnh lịch sử đó chỉ tại Trung Quốc chỉ có những cuộc lấn chiếm, khiêu khích, tấn công dân thường và bộ đội dọc biên giới Việt Nam. Không chỉ vậy, để thêm phần khẳng định về bối cảnh cuộc chiến tranh xâm chiếm biên giới Việt Nam thời điểm đó trang phục mà các diễn viên Trung Quốc mặc trong bộ phim này trùng khớp với quân phục giai đoạn quân đội Trung Quốc tiến hành cuộc chiến xâm lược dọc biên giới phía Bắc cuả Việt Nam năm 1979 đến đầu những năm 1990. Việc tung ra trarler phim đã tạo ra sự tò mò cho nhiều người bởi khi nhìn nhận bộ phim và đối chiếu với các dữ kiện lịch sử sẽ khiến họ tò mò và tìm hiểu về cuộc chiến xâm lược biên giới Việt Nam của Trung Quốc giai đoạn những năm 80 thế kỷ trước

 

Tuy nhiên, qua bàn tay của những kẻ xâm lược bộ phim Vương Bài đã lợi dụng cuộc chiến xâm lược Việt Nam những năm 80 thế kỷ trước dù thua trận nhưng lại được biến thành cuộc chiến phản kích với âm mưu xuyên tạc lịch sử rằng chính Việt Nam đã phát động chiến tranh xâm phạm biên giới và Trung Quốc chỉ phòng thủ chính đáng, bảo vệ chủ quyền. Từ đó khéo léo biến cuộc chiến tranh phi nghĩa thành chính nghĩa và nguy hiểm hơn là khiến cho giới trẻ nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam hiểu sai về cuộc chiến bảo vệ Tổ Quốc của Việt Nam

 

Điều đáng buồn, với danh xưng “phim là nghệ thuật không liên quan đến chính trị” nhiều bạn trẻ Việt Nam những người sinh ra sau chiến tranh lại bỏ ngoài tai tất cả những dữ kiện lịch sử, những sự hi sinh xương máu của các thế hệ ông, cha gần 40 năm trước để tiếp nhận những thông tin sai lệch chỉ vì phim có thần tượng, thậm chí nhiều bạn trẻ còn cực đoạn đến mức khi bị nhiều người nhắc nhở về phát ngôn của mình trên mạng họ sẵn sang thề sống chuết để bảo vệ và ủng hộ idol thay vì đất nước nơi mình được sinh ra, nơi được hưởng thái bình để họ có thể ngồi nhà hâm mộ thần tượng.

 

Truyền bá lịch sử thông qua phim ảnh và âm nhạc là một trong số những hoạt động nguy hiểm nhất, dễ dàng nhất để xâm nhập vào một quốc gia và xóa nhòa đi lịch sử của chính quốc gia đó, thậm chí còn có thể làm sai lệch lịch sử biến kẻ xâm lược thành kẻ không xâm lược, chon vùi tội ác của chúng qua những thần tượng màu mè.

 

Nhưng, hãy thử một lần đặt tay lên trái tim và nghĩ, dòng máu đang chảy trong huyết quản mỗi chúng ta là dòng máu gì? Lá cờ màu đỏ thẫm có ngôi sao vàng 5 cánh đang tung bay tự do kia có ý nghĩa gì? Mỗi khi nghe đến những hy sinh của bộ đội ta ở Vị Xuyên không ai không tránh khỏi xúc động, những người lính vệ quốc vĩ đại đã nằm lại chiến trường - có chiến sỹ đến nay vẫn chưa tìm lại được tên, có bà mẹ gần 100 tuổi mới lần đầu lên được Vị Xuyên “gặp” con qua tấm bia mộ, những người lính - họ chiến đấu, hy sinh anh dũng không lẽ để con cháu họ về sau vì idol mà gọi họ là “giặc”. Đau đớn thay!

 

Vương Bài và cả những sự quảng cáo, PR, ủng hộ, chia sẻ cho nó đều là sự xúc phạm to lớn đến lịch sử nước nhà, danh dự của cha ông. Việc chiếu hay phát hành bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào và những kẻ đang ủng hộ nó chính là đã đạp lên lòng tự tôn dân tộc, coi thường Tổ quốc, đâm sâu vào sau lưng đồng bào, chiến sỹ Việt Nam.

 

Không có bất cứ sự nguỵ tạo nào trên phim ảnh có thể xoá bỏ sự thật từ những năm 1979 đến 1989 Quân bành trướng Trung Quốc từng là những kẻ đi xâm lược, từng tấn công các tỉnh biên giới Việt Nam, sát hại Nhân dân Việt Nam bất chấp đạo lý và nhân tính con người! Điều đó không có gì đáng tự hào cả!