Trang

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU VU CÁO VIỆT NAM VI PHẠM QUYỀN CON NGƯỜI


                                                                                                     Chung Cake

Ngày 11/10/2022, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 ở New York (Mỹ), với đa số phiếu đồng ý, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Đây là lần thứ 2 Việt Nam giữ vai trò này sau nhiệm kỳ 2014-2016 và điều này tiếp tục minh chứng cho sự tin tưởng, ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền con người của Việt Nam cũng như sự tham gia tích cực của Việt Nam trong các hoạt động Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. Đây cũng là minh chứng rõ nét phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người mà các thế lực thù địch, phản động, các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí luôn tìm cách xuyên tạc, chống phá.

Từ khi thông tin Việt Nam là quốc gia duy nhất của ASEAN ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các thế lực thù địch, phản động, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo về việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và phủ nhận những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người đối với cộng đồng quốc tế. Họ còn đưa ra các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi đến các thành viên của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đề nghị không bầu chọn Việt Nam vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Họ đưa ra những luận điệu vu cáo “Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”, “Việt Nam không đủ tiêu chuẩn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc”, “Việt Nam xem giá trị dân chủ, nhân quyền như kẻ thù”; cổ xúy quan điểm “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”, “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thật sự”, “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”... Một số tổ chức ở ngoài nước sử dụng chiêu bài bôi lem vấn đề nhân quyền ở Việt Nam bằng cách bình chọn, trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước để tạo dựng ngọn cờ chống phá và hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, những cá nhân, tổ chức chống phá đưa ra đều phản ánh sai lệch, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong thời gian qua. Kết quả lần thứ 2 được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc với số phiếu cao đã bác bỏ những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận, vu cáo về thực tiễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên Hợp quốc, là một trong ba trụ cột chính của Liên Hợp quốc (hòa bình - an ninh; phát triển và quyền con người). Theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, Hội đồng gồm 47 thành viên, phân bổ theo nguyên tắc cân bằng về khu vực địa lý; các thành viên có nhiệm kỳ 3 năm và không được tham gia ứng viên hai nhiệm kỳ liên tiếp. Do đó, với việc lần thứ 2 được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là sự khẳng định và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để làm rõ những minh chứng sống động phản bác các luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người, chúng ta thấy rõ thành tựu nhân quyền trên các phương diện sau:

Thực chất vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch, phản động đang không ngừng rêu rao, chống phá, đó chính là phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, đi đến phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Minh chứng sống động mà bạn bè quốc tế ghi nhận chính là thành quả mà chúng ta đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước. Diện mạo đất nước trên tất cả các lĩnh vực đã phát triển vượt bậc, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, cuộc sống hòa bình, an ninh, an toàn. Quyền con người được Hiến pháp, pháp luật thừa nhận, điều này đã phản ánh rõ tính chất ưu việt của chế độ XHCN mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiến pháp năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời, các nội dung liên quan đến quyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà còn được đưa vào các chương khác của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình. Các điều của Hiến pháp xác định rõ “mọi người có quyền”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống pháp luật về quyền của con người cũng đã được bổ sung, hoàn thiện như việc ban hành các đạo luật  như Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, trong quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền và là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp quốc, Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đó là tham gia 4 Công ước Geneva của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007. Đồng thời, Việt Nam tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010...

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa VII đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta đã khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột” và “giải phóng con người (trong đó có việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và CNXH thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết.

Liên Hợp quốc cũng đã xác nhận: Việt Nam đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ 9 trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Kiểm định phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người là những minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ của đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới… Những thành tựu đó là kết tinh của trí tuệ, sức lực và bản lĩnh con  người Việt Nam.

Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, là thành viên tích cực, được Liên Hợp quốc và các nước ghi nhận, đánh giá cao. Tại khóa họp lần thứ 73 ở trụ sở Liên Hợp quốc ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu). Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, nhất là vấn đề bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19, bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải đương đầu. Đó là những con số sống động, khách quan, được khẳng định từ thực tiễn và chính người dân Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị bảo đảm quyền con người trong gian lao, thử thách của đại dịch.

Tin tưởng rằng, với kinh nghiệm từ nhiệm kỳ đầu (2014-2016), trong nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết; đối thoại và hợp tác; tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người”, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được về bảo đảm quyền con người, có nhiều đóng góp tích cực để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới, đặc biệt là các vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu, di cư, bảo vệ, thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số, người di cư…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA VÕ NGỌC ÁNH

Vừa qua, trên trang “Boxitvn. Com” Võ Ngọc Ánh có bài viết: “Di dân Việt: Chính trị ổn, kinh tế tốt mà sao vẫn phải ra đi” cho rằng, người dân chỉ rời bỏ Tổ quốc mình khi chính trị, xã hội bất ổn định và kinh tế nghèo, nàn. Vậy, tại sao Việt Nam là một nước có chế độ chính trị ổn định và tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm đầu của thế giới. Song, người dân lại muốn cho con cái ra nước ngoài lao động, đi du học. Vậy, thực hư câu chuyện này như thế nào?

Thứ nhất, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, việc tận dụng vốn, lao động, khoa học, công nghệ giữa các quốc gia để phát triển kinh tế – xã hội là một tất yếu khách quan. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Vì vậy, ngày 13 tháng 11 năm 2020 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Mục đích để người lao động được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp: có cơ hội trau dồi kinh nghiệm, nâng cao kiến thức, tay nghề, phát huy mọi khả năng của mình cũng như tinh thần năng động, nhạy bén trong việc làm chủ các dây chuyền khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại. Có cơ hội được trải nghiệm, khám phá, học hỏi, tích luỹ vốn, kiến thức, kỹ năng, trau dồi những nét văn hóa, phong tục, tập quán của các quốc gia. Đây là điều rất có lợi cho mỗi người sau khi trở về phục vụ Tổ quốc. Vậy, có phải Việt Nam ổn định về chính trị là giả tạo mà người dân phải ra đi như suy diễn của Võ Ngọc Ánh không?

Thứ hai, lợi ích của du học sẽ nâng cao kỹ năng sử dụng ngoại ngữ, việc thông thạo ngoại ngữ trong thời đại hiện nay sẽ mở ra cho mọi người nhiều cơ hội trong cuộc sống và nghề nghiệp mà theo phương châm sống của người Việt là: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Sự khác biệt luôn là cần thiết. Vì vậy, đi du học là tiếp thu tri thức, để trưởng thành hơn, giúp cho mọi người không ngừng hoàn thiện bản thân mình cả về phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đặt ra. Đây là điều mà tất cả các quốc gia đang cần ở các công dân của mình trong tương lai. Có thể khẳng định rằng, du học không chỉ toàn là “màu hồng” nhưng “được” vẫn luôn nhiều hơn “mất”. Chính vì điều đó, ngày càng có thêm nhiều bạn trẻ không những ở Việt Nam mà ở các quốc gia khác trên thế giới tìm đến cơ hội cho bản thân qua con đường du học ở nước ngoài. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang khuyến khích người dân đi du học ở nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau. Với Việt Nam, điều này sẽ góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng hiện nay. Vậy, theo Võ Ngọc Ánh việc đi du học là có lợi, hay có hại cho bản thân, gia đình và xã hội?

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng thì đi lao động ở nước ngoài hay đi du học là xu thế tất yếu của tuổi trẻ ở tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Phê phán việc đi du học, đi lao động ở nước ngoài là tâm địa đen tối của Võ Ngọc Ánh, nhằm xuyên tạc tình hình thực tiễn ở Việt Nam, bôi nhọ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu Võ Ngọc Ánh và đồng bọn của y.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỐNG THAM NHŨNG LÀ PHẤN ĐẤU CHO MỘT XÃ HỘI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 Khi nói về việc chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Công cuộc đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn. Do đó, Đảng kiên quyết xử lý những kẻ tham nhũng, nhằm bảo vệ thành quả đổi mới đã đạt được, bảo đảm cho sự phát triển bền vững là tất yếu. Thực tiễn đã minh chứng cho điều đó, vậy mà vẫn có kẻ lại cay cú, quay sang châm chọc, xuyên tạc hòng phủ nhận chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước Việt Nam, như bài viết của Vũ Ngọc Yên trên trang baotiengdan.com ngày 17/9/2022.

Thứ nhất, sự phủ nhận trơ tráo của Vũ Ngọc Yên không làm thay đổi những ghi nhận của thế giới về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam trên mọi lĩnh vực.

Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định: trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam đã thành công về phát triển, những tiến bộ chưa từng có về kinh tế – xã hội đạt được có tính chất bao trùm, do những cải thiện về phúc lợi xã hội. Theo bảng đánh giá Chỉ số chính phủ tốt do Viện Quản trị Chandler (CGGI – Singapore), mức tăng trưởng chỉ số bình đẳng thu nhập của Việt Nam tăng 33 bậc so với năm 2021, lên vị trí thứ 42. Việt Nam cũng tăng 18 bậc lên vị trí thứ 39 về chỉ số thu hút đầu tư, thể hiện tốt ở các chỉ số sự hài lòng với các dịch vụ công (thứ 15) và bình đẳng giới (thứ 27). Thành tích tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam cho thấy, Chính phủ đã tập trung vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời bảo đảm một xã hội công bằng hơn.

Không những thế, nhờ có những nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng phục hồi qua các cuộc khủng hoảng khác nhau. Điển hình trong đại dịch Covid-19, Việt Nam là một trong số ít quốc gia đạt mức tăng trưởng GDP vào năm 2020, là thời điểm dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ. Tăng trưởng GDP năm 2022 dự kiến sẽ phục hồi ở mức 5,5% . WB nhận định, Việt Nam là quốc gia năng động đang trong quá trình chuyển đổi, trở thành điểm đến hấp dẫn, đáng tin cậy của các nhà đầu tư quốc tế. Điều đó cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng, với nhiều chuyển biến tích cực về kinh tế, xã hội, không như đánh giá của Vũ Ngọc Yên rằng, chống tham nhũng ở Việt Nam là biểu hiện sự tụt hậu.

Thứ hai, trái với những lời xuyên tạc của Vũ Ngọc Yên, công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, cùng với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, nạn tham nhũng từng bước bị ngăn chặn, đẩy lùi.

Bàn về chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”. Phát biểu tại buổi họp báo sau Đại hội XIII của Đảng ngày 01/02/2021, Tổng Bí thư bày tỏ: “Tôi nói là không dừng, không nghỉ, không kể đó là ai, không có vùng cấm”. Điều đó thể hiện thái độ kiên quyết tiêu diệt nạn tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, được minh chứng bằng những kết quả cụ thể: Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Một trong những kết quả nổi bật, đó là công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, đã phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đáng chú ý, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực đã được các địa phương, cơ sở quan tâm hơn, từng bước khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” thể hiện qua những “con số biết nói”. Số địa phương không phát hiện, khởi tố vụ án tham nhũng mới hằng năm có xu hướng giảm dần.

Sự công khai của Đảng, Nhà nước về những con số trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã thể hiện thái độ khách quan, minh bạch trong lãnh đạo điều hành đất nước. Lời lẽ của những kẻ như Vũ Ngọc Yên không mới và cũng không cần phải bình luận nhiều về cái điều mà ai cũng biết: cay cú, tỵ hèm rồi xuyên tạc, bôi nhọ sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, trong đó có công cuộc chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta của những kẻ cơ hội chính trị, bất mãn như Vũ Ngọc Yên chắc chắn không phủ nhận được vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa đã được nhân dân ta lựa chọn, đi theo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO,

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”. Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

 

 

 

 

 

NHẬN THỨC RÕ VỀ ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH BẢO VỆ

CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA VIỆT NAM

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT XUYÊN TẠC CỦA

TRƯƠNG NHÂN TUẤN

Mới đây, Trương Nhân Tuấn – kẻ vong nô phản quốc ở hải ngoại đã phát tán nội dung xuyên tạc“Việt Nam không có chủ nghĩa“thương dân”” trên diễn đàn “doithoaionline. Com”. Đây thực chất là luận điệu quy chụp, thể hiện “tư duy thiển cận”, cái nhìn đầy định kiến của kẻ cơ hội chính trị nhằm phủ nhận tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa hòng gây hoang mang trong nhận thức và dư luận xã hội về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Với việc cóp nhặt thông tin trên internet, cố làm ra vẻ hiểu biết, Trương Nhân Tuấn kết luận rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa “người cộng sản chưa bao giờ phục vụ lợi ích của người dân hết cả”. Đó chỉ là nhận định hàm hồ và phiến diện của y. Bởi lẽ, trong hệ thống lý luận và nhận thức của Đảng ta luôn nhất quán, khẳng định mục tiêu cách mạng của Đảng là: ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không còn lợi ích gì khác. Và, giá trị cốt lõi, bền vững và tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng là một xã hội ưu việt, thực sự vì con người; sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, việc quan tâm chăm lo con người, vì lợi ích của người dân luôn là mục tiêu hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta hướng tới, được thể hiện sinh động trong suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung nỗ lực xây dựng xã hội mới, gắn phát triển kinh tế với từng bước phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người tăng, năm 2021 đạt hơn 3.500 USD. Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam đạt thành tựu mang tính điển hình của thế giới, đưa Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện thành công, sớm hơn dự định nhiều mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hợp quốc phát động. Tính đến tháng 1-2021, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều mới ở nước ta giảm xuống chỉ còn 4,8%. Sự chăm lo về trí lực cho người dân đã được đặc biệt quan tâm, hệ thống giáo dục quốc dân phát triển, được UNESCO đánh giá xếp thứ 64/127 nước trên thế giới, bảo đảm cho mọi công dân được thụ hưởng nền giáo dục công bằng và tiến bộ. Trong lĩnh vực sức khỏe, chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của nước ta cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới với 92% dân số có bảo hiểm y tế. Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm các nước có chỉ số HDI cao trên thế giới. Bên cạnh đó, trong ứng phó với các thảm họa thiên nhiên, dịch bệnh, Đảng và Nhà nước cùng cả xã hội luôn chung tay khắc phục, quan tâm đến từng số phận con người. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19 vừa qua, Việt Nam đã nỗ lực triển khai quyết liệt mục tiêu tiêm chủng miễn phí toàn dân, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân lên trên hết, trước hết, kịp thời đưa dịch vụ y tế, an sinh xã hội đến gần dân nhất, sát dân nhất. Liên hợp quốc đã ghi nhận người Việt Nam ngày càng hạnh phúc hơn, dựa trên đánh giá tổng hợp GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng. Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2021 do Liên hợp quốc công bố, Việt Nam đã tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79.

Những nhận định khách quan đó như một bằng chứng sinh động khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc không ngừng nỗ lực để người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Đồng thời, đó cũng là “chỉ số lòng dân” góp phần đo lường tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Xét ở khía cạnh khác, chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự điều chỉnh song nó vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong xã hội tư bản chủ nghĩa, đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc trong các nước tư bản. Đó là cơ sở để chúng ta khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực sự vì con người, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và địa vị làm chủ chân chính cho nhân dân. Chỉ những kẻ bị lóa mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản như Trương Nhân Tuấn mới xảo ngôn, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN mà thôi.

Do đó, những luận điệu của Trương Nhân Tuấn chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng. Chúng ta cần tỉnh táo nhận diện thật-giả, trắng-đen… để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn. Không ở đâu có thể tốt bằng chính nhà mình, Tổ quốc mình, không luận điệu nào, dù xảo biện, xảo quyệt đến đâu có thể làm đảo lộn thực tiễn phát triển của đất nước ta hiện nay./.

 

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét