Cubin
Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận (cùng với triết học và kinh tế chính trị) hợp thành chủ nghĩa Mác. Nhân kỷ niệm 30 năm ngày C. Mác qua đời, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[1]. Nhấn mạnh này đã làm toát lên được bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác. Trong thực tiễn, những nội dung bản chất đó, được biểu hiện trực tiếp, rõ nét nhất ở chủ nghĩa xã hội khoa học.
Chủ nghĩa xã hội là một hình thái ý thức xã hội đã có từ lâu trong lịch sử
tư tưởng nhân loại. Trước hết, ý thức này mang bản chất nhân văn, là muốn giải phóng con người khỏi áp bức, bất công: “Đã
lâu rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay nhân loại mong ước
thủ tiêu “lập tức” mọi sự bóc lột”[2]. Từ mong ước này,
các tư tưởng chủ nghĩa xã hội trước
chủ nghĩa Mác, phát triển lý thuyết của mình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện
đến hoàn thiện hơn. Đỉnh cao là các tư tưởng chủ
nghĩa xã hội dạng hoặc thuyết ở đầu thế kỷ XIX của H. Xanh Ximông,
S.Phuriê và R.Ôoen.
Thế nhưng, tất cả các tư tưởng XHCH trước chủ nghĩa Mác đều là : Không tưởng. Nghĩa là các tư tưởng này
chưa phải là sản phẩm khoa học với những nội dung mang tính qui luật khách quan
để có thể phát động cách mạng, biến đổi thực tế, đạt được mục tiêu - bản chất
nhân văn của mình là : giải phóng con người. Theo V.I.Lênin, tính không tưởng
đó,thể hiện ở chỗ là : “Chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch
ra được lối thoát thực sự”. Cụ thể hơn là: “Nó không giải thích được bản chất của
chế độ nô lệ làm thuê trong chế độ tư bản, cũng không phát hiện ra được những
qui luật phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có chức năng trở thành
người sáng tạo xã hội mới”[3].
Nguyên nhân chủ yếu làm cho các tư tưởng xã
hội chủ nghĩa trước chủ nghĩa
Mác chỉ là không tưởng là do, chúng hình thành trong điều kiện lịch sử chưa
“chín muồi”, chưa có được những tiền đề cần thiết để làm cơ sở phản ánh. Chỉ đến
những năm 40 của thế kỷ XIX, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát
triển cao, tư tưởng chủ nghĩa xã hội
trong chủ nghĩa Mác mới có những điều kiện cần thiết, qua đó khắc phục được những
điểm yếu nêu trên của chủ nghĩa xã hội
không tưởng để trở thành khoa học, có bản chất cách mạng. Tiền đề văn hóa là những
thành tựu to lớn trong khoa học tự nhiên (Thuyết tế bào, Học thuyết tiến hóa, Định
luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng…), trong khoa học xã hội (Triết học cổ
điển Đức, Kinh tế học Anh, chủ nghĩa xã hội
không tưởng phê phán Pháp, Anh…). Đặc biệt là tiền đề kinh tế - xã hội, đó là sự
phát triển của nền đại công nghiệp và sự trưởng thành của giai cấp công nhân hiện
đại qua những cuộc đấu tranh lớn chống áp bức tư bản (Khởi nghĩa Lion ở Pháp,
Khởi nghĩa Xilêdi ở Đức, Phong trào hiến chương ở Anh…).
Trong điều kiện lịch sử “chín muồi” nêu trên, C.Mác và
Ph.Ăngnghen đã phát triển về cơ bản chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội
khoa học nói riêng, nhất là năm 1848, đánh dấu bằng tác phẩm nổi tiếng của hai
ông: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Tiếp đó, từ thực tiễn vận động cách mạng
những năm 1852-1848, đặc biệt là sau công xã Pari (1871), C.Mác và Ph.Ănghnghen
phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trên nhiều phương diện.
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, bước vào thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin
đã tuyên truyền, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, nhất là sau Cách mạng
Tháng Mười Nga (1917), khi có chủ nghĩa xã hội hiện thực. Từ đấy, chủ nghĩa Mác
trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó có chủ nghĩa xã hội khoa học, mang đầy
đủ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn.
Bản chất khoa học của xã hội
chủ nghĩa khoa học là ở chỗ:
Những vấn đề mà nó nêu ra là tiếp nối sáng tạo những giá trị của các tư tưởng
chủ nghĩa xã hội trong lịch sử và đặt
trong môi trường tồn tại xã hội mới. Đúng như lời Ph.Ăngnghen: “Cũng như bất cứ
học thuyết nào, chủ nghĩa xã hội trước hết phải xuất phát từ tài liệu tư tưởng
đã được tích lũy từ trước, mặc dù gốc rễ của nó nằm sâu ở những sự kiện kinh tế”[4].
Những vấn đề mà nó nêu ra, trên cơ sở
và đồng thời với hai bộ phận hợp thành khác của chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng được
phát triển ở mức độ khoa học đỉnh cao, là : Triết học duy vật và biện chứng,
nhất là trong đó, với quan điểm duy vật về lịch sử, chỉ ra qui luật vận động
chung của xã hội, của các hình kinh tế - xã hội và Kinh tế chính học macxit, nhất
là trong đó vạch rõ bản chất vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Ph.Ăngghen viết: “Hai phát kiến vĩ đại ấy: quan niệm duy vật về lịch sử và việc
dùng qui luật giá trị thặng dư để bóc trần cái bí mật của sản xuất tư bản chủ
nghĩa là công lao của Mác. Chính nhờ hai
phát hiện này, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học…”[5].
Từ đó,
những vấn đề nêu ra của chủ nghĩa xã hội khoa học là những
qui luật hoặc mang tính qui luật khách quan hướng tới mục tiêu nhân văn của các
tư tưởng chủ nghĩa xã hội nói chung là giải
phóng con người khỏi áp bức giai cấp và bất bình đẳng xã hội, nhưng rất đặc thù
phù hợp với lịch sử hiện đại, mà trong đó, các nội dung cơ bản là: Một, cách mạng vô sản là tất yếu để thay
thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Hai, Đảng lãnh đạo,
giai cấp công nhân đi đầu cùng với đông đảo nhân dân trong tiến trình cách mạng.
Ba, giành chính quyền là nhiệm vụ cơ
bản đầu tiên của cách mạng để hình thành nhà nước mới quản lý và xây dựng chủ
nghĩa mới; Bốn, chủ nghĩa xã hội mới trải qua thời kỳ quá độ và hai giai đoạn thấp, cao của
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; Năm, xã hội mới chủ nghĩa xã hội là xã hội dân chủ
thực sự ,với các cộng đồng (giai cấp, dân tộc, tầng lớp, gia đình…) văn minh,
xích lại gần nhau; Sáu, tiến tới xã hội
cộng sản, con người ngày càng phát triển toàn diện, làm chủ tự nhiên, làm chủ
xã hội và làm chủ bản thân; v.v.
Bản chất cách mạng của chủ nghĩa xã hội
khoa học là ở chỗ:
Những
qui luật và tính qui luật mà nó nêu ra là nhằm giải quyết những mâu thuẫn lớn
trong xã hội, trước hết là mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất chiếm hữu tư bản tư
liệu sản xuất với lực lượng sản xuất đã xã hội hóa cao trong nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa; giữa giai cấp công nhân làm thuê và giai cấp tư bản bóc lột.
Ph.Ănghgen viết: “Theo nội dung của nó, chủ nghĩa xã hội hiện đại, trước hết là
kết quả của sự quan sát, một mặt, những đối lập giai cấp đang thống trị trong
xã hội hiện đại, giữa người có của và người không có của, giữa người công nhân
làm thuê và nhà tư bản; mặt khác, tình trạng vô chính phủ đang ngự trị trong nền
sản xuất.”[6]
Những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội khoa
học nêu ra mang tính chiến đấu mạnh mẽ, không quanh co, ẩn dụ…, trực tiếp tấn
công vào các giai cấp thống trị áp bức vào chế độ sở hữu tư nhân bóc lột, qua
đó mà động viên, tập hợp lực lượng cách mạng. Vì thế, C.Mác và Ph.Ăngnghen mới
cho rằng: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần
phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải tuân theo. Chúng
ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực”[7].
Còn, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, cách mạng không phải dễ dàng, mà phải qua chiến
đấu . Người viết: “Không có gì là lạ nếu học thuyết của Mác, một học thuyết trực
tiếp dùng để giáo dục và tổ chức giai cấp ấy và chứng minh rằng, do kinh tế
phát triển, một trật tư xã hội mới nhất định sẽ thay thế chế độ hiện tại; không
có gì là lạ nếu mỗi bước đi của chủ nghĩa ấy trên con đường sinh tồn đều phải
kinh qua chiến đấu”[8] .
Bản chất cách mạng của chủ nghĩa xã hội khoa
học còn được thể hiện ở chỗ, cùng với việc nêu ra những qui luật, tính qui luật
của vận động xã hội đi tới tương lai, là việc chỉ ra các vấn đề chiến lược -
sách lược để hiện thực hóa các qui luật, tính qui luật của quá trình vận động
này. Đó là, xây dựng Đảng Cộng sản cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Vai
trò của Đảng trong việc đưa phong trào công
nhân từ tự phát lên tự giác. Đó là, tập hợp mọi lực lượng có thể, trước hết là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
Đó là việc giành chính quyền, phổ biến bằng con đường bạo lực cách mạng và “đập
tan” nhà nước cũ mở đường cho xây dựng nhà nước mới của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động. Đó là, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ đấu tranh giai cấp tiếp tục, trong điều kiện
mới, với những nội dung mới và hình thức mới. Đó là việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, phải cải biên - phát triển cao
mọi mặt của đời sống xã hội và như lời V.I.Lênin: “Chủ nghĩa xã hội sinh động,
sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”[9].v.v.
Bản chất nhân văn, như đã nói, là
cái khởi nguồn, cũng do vậy là điểm đến - mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tinh thần nhân văn - nhân đạo là đặc điểm
chung của các tư tưởng chủ nghĩa xã hội trong lịch sử
nhân loại. Nó thể hiện niềm tin yêu đối với con người, muốn nâng đỡ, giải
phóng, phát triển con người…Tinh thần đó trong thời đại Phục hưng ở phương Tây
(thế kỷ XV-XVI, XVII), được nâng lên thành chủ nghĩa nhân văn với một hệ thống
các quan điểm của nhiều hình thái ý thức xã hội (triết học, chính trị, văn học,
nghệ thuật…). Chủ nghĩa nhân văn thời kỳ này gắn liền với vai trò tiến bộ và vị
trí lịch sử đang lên của giai cấp tư sản. Nhưng, do tính chất tư sản của phong
trào mà nội dung và mục đích nhân văn dần bị hạn chế. Song, cũng chính từ thực
tế đó, lịch sử đã xuất hiện những tư tưởng nhân văn cao cả hơn được nêu lên
trong chủ nghĩa xã hội không tưởng thời kỳ đó và tiếp theo.
Những
tư tưởng nhân văn của các tư tưởng chủ nghĩa xã hội, mục đích trước hết,
là hướng về bộ phận cần lao - những tầng lớp bị áp bức và đau khổ nhất; giải
phóng con người với tính cách là cá nhân không tách rời giải phóng toàn xã hội;
con đường giải phóng mang tính triệt để là đoạn tuyệt với chủ nghĩa cá nhân và
chế độ tư hữu áp bức con người…Trước khi bước lên đoạn đầu đài, hy sinh vì lý
tưởng cộng sản, G.Babớp (nhà không tưởng chủ nghĩa xã hội Pháp thế kỷ
XVIII) viết thư cho vợ và con gái, trong đó có câu mang ý nghĩa tuyên ngôn về bản
chất nhân văn chủ nghĩa xã hội, rằng: “Tôi không
thấy cách nào khác làm cho em và các con hạnh phúc ngoài con đường bảo đảm đời
sống yên vui hạnh phúc của mọi người”[10].
Tư tưởng nhân văn, trong chủ nghĩa xã hội khoa
học của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã tiếp thu những giá trị nhân văn của chủ nghĩa xã hội không
tưởng để cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện mới và phát triển hơn lên:
Chủ nghĩa xã hội khoa học nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của con người trong lịch sử xã
hội, cách mạng là ngày hội của quần chúng và “Phong trào vô sản là phong trào độc
lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số”[11]
.
Cách mạng vô sản giải phóng
con người (giai cấp, dân tộc, xã hội), trước hết là giải phóng giai cấp công
nhân, “tầng lớp bên dưới nhất của xã hội hiện đại”. Và, giai cấp công nhân cũng
“chỉ có thể tự giải phóng mình thông qua việc đồng thời giải phóng các giai cấp
bị áp bức và bóc lột khác”[12]
Điểm bản chất nhất trong chủ
nghĩa nhân văn của chủ nghĩa xã hội khoa học là tạo ra một môi trường mới
nhân văn cho con người, mà ở đó: “…không phải là làm thay đổi chế độ tư hữu, mà
là thủ tiêu các giai cấp, không phải là hoàn thiện xã hội hiện tồn, mà là xây dựng
xã hội mới”[13].
Xã hội mới ấy chính là chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản, khi được xây dựng thành công sẽ là “…một liên hợp, trong đó sự
phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả
mọi người”[14] và “Đó là bước nhảy của con
người từ vương quốc tất yếu sang vương quốc
tự do”. Như vậy, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa nhân văn trong chủ nghĩa xã hội khoa
học là: con người phát triển toàn diện để có được tự do. Ph.Ăngnghen giải thích
điều này: “Con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng
do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ bản thân trở thành tự do”[15].
Từ những nhận thức nêu trên
về bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa xã hội khoa
học, có thể rút ra một số vấn đề liên quan đến công tác lý luận sau đây:
Một là, ba nội
dung bản chất ấy của chủ nghĩa xã hội khoa học là một thể thống nhất biện chứng
và “điểm hẹn’’ đi tới của khoa học và cách mạng là xã hội nhân văn, với con người
phát triển toàn diện, tự do - làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản
thân. Việc phân chia ra chỉ trong nghiên cứu, còn thực chất, ở nhiều nội dung của
chủ nghĩa xã hội khoa học, hơn nữa, ở toàn bộ học thuyết đã bao hàm cả tính khoa học,
cách mạng và nhân văn. Qua đó, giúp chúng ta hiểu rõ hơn đánh giá của V.I.Lênin
về tính “vạn năng”, “chính xác”, “hoàn bị và chặt chẽ của chủ nghĩa Mác[16], nhận thức đầy đủ hơn nhận
định của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác - Lênin là: “cẩm nang thần kỳ”, “cái vũ
khí không gì thay thế được”[17] và củng cố hơn nữa niềm tin
vào chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hai là, các
nước trong hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới trước đây đã có nhiều thành tựu
trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào đấu tranh cách mạng giành chính quyền
và tiến hành xây dựng xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa. Những năm 60-70 của thế kỷ trước, lúc
đỉnh cao phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực là xã hội dân chủ, nhân văn
thực sự và được coi là “Thiên đường trên trái đất”. Thế nhưng, sau đó, hệ thống
chủ nghĩa xã hội thế giới đi vào khủng hoảng, rồi sụp đổ vào cuối những năm 80-90. Một
trong những nguyên nhân của bi kịch này là bản chất khoa học, cách mạng và nhân
văn của chủ nghĩa Mác - Lênin không được các Đảng cầm quyền vận dụng đầy đủ,
sáng tạo trong xây dựng xã hội chủ nghĩa xã hội ở quốc gia mình. Nguyên nhân đó đã dần được khắc phục trong thời kỳ cải
cách - đổi mới ở một số quốc gia chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, tiếp tục tuyên truyền, bảo
vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin là nhiệm vụ trọng yếu
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là yếu tố sống còn và đi lên của
các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, do vậy,
ở nước ta hiện nay, cần phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW, của Bộ
Chính trị về công tác lý luận và định hướng
nghiên cứu đến năm 2030. Bên cạnh những thành tựu về công tác lý luận, Nghị
quyết còn chỉ ra không ít những hạn chế trong công tác này, như: lý luận còn lạc
hậu; nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh còn dàn trải,
tính hệ thống chưa cao;tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị còn
hạn chế về chất lượng…Nghị quyết cũng nêu lên những hướng nghiên cứu chủ yếu,
trong đó có khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn Việt
Nam; những vấn đề cần bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh…Do vậy, chú trọng góc độ bản chất của xã hội chủ nghĩa khoa
học về khoa học, cách mạng và nhân văn ,trong công tác lý luận, sẽ góp phần khắc
phục được những hạn chế và thực hiện tốt các hướng nghiên cứu nêu trên…
Bốn là, đồng
thời tiếp tục thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền
tảng tư tưởng của Đảng ta là: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư
tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy, cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
mang bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn. Nghị quyết bao gồm nhiều nội
dung, trong đó có nêu: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và
tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Do đó, nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là góp phần quan trọng vào bảo vệ vững
chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.
[1]
V.I.Lênin Toàn tập, NXb.Tiến bộ,
Matxcova, tập 23, tr.49.
[2] V.I.Lênin
Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.53.
[3] V.I.Lênin,
Sđd. Tập 23, tr.56-57.
[4]
Ph.Ăngghen : Chống Đuyring NXb Sự
thật, Hà Nội, 1971,tr.26
[5]Ph.Ăngghen:
Sđd . tr.45
[6]
Ph.Ăngghen: Sđd, tr.25
[7]
C.Mac-Ph. Ăngghen : Tuyển tập, NXb Sự
thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.297
[8]
V.I.Lênin: Toàn tập, NXb Tiến bộ,
Matxcova, 1972, tập 15, tr 31-32.
[9]V.I.Lênin,
Sđd , tập 35, tr.64
[10] Lược khảo lịch sử tư tưởng XHCN, NXb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.147
[11] C.Mác
-Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXb. Chính trị
quốc gia. Hà Nội, tập 4,tr.611.
[12] C.Mác -
Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXb. Chính trị
quốc gia. Hà Nội, tập 4,tr.611.
[13] C.Mác -
Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, tập 7,tr.47
[14] C.Mác -
Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, tập 4,tr.628
[15] C.Mác -
Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, tập 19,tr.333
[16]
V.I.Lênin: Toàn tập, NXb Tiến bộ,
Matxcova, tập 13, tr.49
[17] Hồ Chí
Minh: Toàn tập, NXb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.590
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét